A-TỲ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ - II - Phân Biệt Thế gian. TỔNG THUYẾT VŨ TRỤ LUẬN


Tuệ Sỹ


A-TỲ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ - II - Phân Biệt Thế gian. TỔNG THUYẾT VŨ TRỤ LUẬN

Chương I

TỔNG THUYẾT VŨ TRỤ LUẬN

I. VŨ TRỤ LUẬN THẦN THOẠI

1. VŨ TRỤ LUẬN CỔ ĐẠI Các nền văn minh tối cổ của nhân loại mà ngày nay còn biết đến, ngoại trừ Trung hoa, đều có những truyền kỳ thần thoại về vũ trụ luận. Từ những điểm thấy là tương đồng hoặc dị biệt, tùy theo cách nhìn, các nền văn minh này được nhận định hoặc xuất phát từ một nguồn gốc chung, hay chỉ có những quan hệ láng giềng. Phần lớn cách nhìn này tùy thuộc phương pháp lý giải các mẫu thần thoại trong các tôn giáo cổ liên hệ vấn đề vũ trụ luận. Những từ ngữ quen gặp trong các kinh điển Phật giáo, như Ārya, Indra, Asura, Sumeru, Uttara-kuru, v.v., cũng được tìm thấy khá phổ biến trong các mẫu thần thoại từ hai khu vực văn minh tối cổ là Lưỡng Hà và thung lũng Indus; chúng có ý nghĩa gì ở đây?
i. Nguồn gốc āryan
Kể từ khi các văn bản đất sét viết bằng ký tự hình nêm được phát hiện tại Nippur, nay gọi là Nuffar, cách Bagdad, Iraq 150 km về phía Bắc, nguồn gốc thần thoại trong Sáng thế ký (Genesis) của Thánh kinh Do-thái (Cựu Ước) được xét lại. Người ta đề nghị đọc lại Genesis trong Thánh kinh Cựu Ước (Alternative Genesis), dẫn lùi về văn minh Sumeria căn cứ trên các văn bản đất sét viết bằng chữ hình nêm (cuneiform) phát hiện tại Nippur, với nhiều giải thích ngữ nguyên thú vị. [1] Và cũng từ đó, dấu vết của các dân tộc tối cổ trong vùng Trung Đông được lần lượt theo dõi.
Thêm nữa, cho đến khi nền văn minh lưu vực Indus được phát hiện, với sự khai quật hai di chỉ Mahenjo Daro và Harappa, nhiều chứng cứ cho thấy hình như các nền văn minh tối cổ, trừ Trung hoa, bao gồm trên một khu vực rộng lớn trải dài từ phía bắc Ural Nga, xuống đến Lưỡng Hà, lan sang Ấn-độ, đều có quan hệ mật thiết nào đó; hoặc cùng chung một nguồn gốc, hoặc giao lưu tương tác.
Văn minh thung lũng Indus là nền văn minh đô thị sớm nhất trong lịch sử nhân loại, trưởng thành trong khoảng 2600-1900 tr.TL. Nó cũng được gọi là văn minh Harappa, tên một ngôi làng thuộc Punjab, một tỉnh đông dân cư đông bắc Pakistan, được phát hiện từ năm 1857 do nhu cầu vật liệu làm đường ray xe lửa, sau đó phát hiện là di tích của nền văn minh thung lũng Indus, cho đến năm 1920 mới được khai quật, trong đó nhiều văn bản bằng đất sét được tìm thấy, niên đại giám định khoảng 3300-3200 tr.TL. Tiếp theo, di chỉ Mahenjo-daro, nay thuộc quận Larkana, tỉnh Sindh (Pakistan), đô thị phát triển khoảng 2600 tr.TL, đến thế kỷ 19 tr.TL thì tàn rụi. Phát hiện và khai quật năm 1922.
Max-Müller (1823-1900), nhà Phạn ngữ học Đức lỗi lạc, nhận xét, văn minh Harappan trong thung lũng Indus đã thâu thái nhiều ý tưởng từ Lưỡng Hà. Hai con dấu mẫu Mohenjo-daro được phát kiến tại Elam và Mesopotamia (Lưỡng Hà); và một bia ký mẫu tự hình nêm cũng được khai quật ở Mohenjo-daro.[2]
Dù vậy, trong một số liên hệ hay liên tưởng đề cập dưới đây, người ta có thể thấy dấu vết, tuy đang còn mơ hồ, về nguồn gốc lịch sử hay thần thoại của các nền văn minh cổ. Nói là “dấu vết mơ hồ”, không có nghĩa là hoàn toàn không quan hệ.
Do sự tương đồng nói là đáng kinh ngạc về ngữ vựng cũng như ngữ pháp giữa Rig Vedavà Avesta, [3] nhiều học giả từ trên cơ sở ngữ học này thực hiện các công trình nghiên cứu so sánh các ý niệm tôn giáo và các nghi lễ được nói đến trong các Veda tiền kỳ và trong Avesta của cổ Ba-tư, từ đó gợi lên các giả thuyết, hoặc xác định, nguồn gốc chung của hai nền văn minh tối cổ nhân loại, mà họ gọi là tôn giáo Indo-Iran tiền Veda.[4] Người Ấn-độ gọi quê hương của họ là āryāvarta; [5] và Thánh thư Avesta nói, mảnh đất đầu tiên mà Ahura Mazdā sáng tạo cho loài người được gọi là airyanəm vaējah, vùng đất của người Airya.[6] Từ airya trong ngôn ngữ Avestan đồng nhất với ārya trong tiếng Sanskrit.
Do Veda và Avesta đều gọi tên dân tộc của mình là aryan, sử gia uy tín của Bái hỏa giáo[7] tin rằng, căn cứ Thánh thư của họ, người Ấn-độ và cổ Iran đều có chung một nguồn gốc, và quê hương nguyên thủy chung của họ là Airyana Vaeja được ước định ở đâu đó từ bờ phía nam Lý hải (Caspian Sea), sau đó phân tán vào các rặng Caucusus, tiến vào Armenia, rồi dần bước nam tiến. Đây là đợt di dân thứ nhất của các tộc Ấn-Âu. Một đợt di dân khác sớm hơn của nhóm Ấn-Y (Indo-Iran) từ vành đai phía nam Lý hải, tiến về phía đông du nhập xứ sở mà Thánh thư nói là vùng đất thứ 15 do chính Ahura Mazdā tạo ra: Hapta Hindu, theo ngôn ngữ Avestan, hay Sapta Shindhu theo Sanskrit: vùng đất của bảy con sông; được đồng nhất với vùng Punjab (Ngũ hà).
Tin tưởng này dựa trên lý thuyết “Xâm nhập Aryan” (Aryan Invasion), mà lý thuyết gia danh tiếng là Max-Müller. Thế nhưng các ý kiến của Max-Müller về văn minh Veda bị nhiều nhà Ấn-độ học ái quốc và bảo thủ Veda chính thống chống đối.[8] Đại bộ phận các nhà Ấn-độ học bản xứ tin rằng không có nền văn minh nào ngoài khu cực địa lý Ấn-độ như được biết hiện tại đã tác động và ảnh hưởng đến văn minh Veda. Bênh vực quan điểm này là thuyết “Ấn-độ xuất phát” (Out of India theory), theo đó, Ấn-độ cổ đại với văn minh Veda là cái nôi của văn minh nhân loại, từ đó xuất phát các ngôn ngữ và văn minh thế giới.
Từ ngữ ārya (Pāli, ariya) rất thường gặp trong kinh Phật. Hán dịch là “Thánh”. Ngôn ngữ phương Tây ngày nay dịch là “noble”, có khi hiểu là “cao thượng”, cũng có khi hiểu là “quý tộc” đối lập với pṛthagjana (putthujana) hiểu là phàm phu, có khi hiểu là nô lệ, hay hạ đẳng. Trong bài pháp đầu tiên, kinh Chuyển pháp luân, Đức Phật phân biệt hai lối sống putthujaniki anariyo: “phàm phu, phi thánh”, hiểu là thấp hèn, không cao thượng; và chỉ ra con đường giữa, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, thánh đạo tám chi. Từ ārya ở đây tất nhiên không chỉ vào một giai cấp quý tộc đối lập với hạ đẳng. Từ pṛthagjana, Hán dịch phổ thông là “phàm phu”, trong các Thánh điển Ấn-độ giáo, như Mahābharata, Manussmṛti, nó chỉ cho người thuộc giai cấp hạ đẳng, hay có nghề nghiệp hạ tiện;[9] hoặc chỉ hạng người ngu muội; người xấu, tội lỗi.[10] Nếu pṛthagjana được hiểu theo nghĩa sau, thế thì khi dùng chung với āṛyan, cặp từ này sẽ chỉ sự phân biệt đẳng cấp xã hội. Phân biệt này đã thấy từ Veda. Đây là ý nghĩa mà Lopez muốn thử giải thích.[11] Ông nói, từ ariyasacca (Pāḷi) hay ārya-satya (Sanskrit) trong Anh ngữ thường dịch là “the noble truth” (chân lý cao thượng); nhưng ngữ cảnh này, không nên hiểu là chính chân lý ấy cao thượng, mà là người hiểu nhận thấy chân lý ấy cao thượng, tức chân lý của quý tộc, hay nói thẳng ra, đó là chân lý của người āryan. Tiếp theo, ông nói đến sự xâm nhập của người āryan từ vùng đất cổ Iran, tràn vào thung lũng Indus, tiến về phía đông, định cư trên lưu vực sông Hằng. Đức Phật thuộc giai cấp kṣatriya, vốn thuộc chủng tộc āryan. Chân lý mà Phật nói là chân lý của người āryan. Hình như ông ngụ ý Đức Phật không triệt để bài trừ giai cấp như mọi người vẫn thường nghĩ.
Tuy nhiên, theo cách nghĩ của chúng ta, cặp từ āryan-pṛthagjana nguyên thủy hàm nghĩa phân biệt giai cấp, giữa những kẻ thống trị và hạng bị trị, dựa trên chủng tộc, huyết thống. Nguồn gốc của sự phân biệt được biện hộ bằng các mẫu thần thoại sáng thế của tôn giáo Veda, hay các nguồn tín ngưỡng cùng bản chất. Kinh Phật dùng cặp từ này để chuyển sang nghĩa khác: cao thượng hay thấp hèn được phân biệt bằng phẩm chất đạo đức và trí tuệ chứ không phải bằng chủng tộc hay huyết thống.
ii. Indra-Asura
Thiên đế Thích và A-tu-la. Cặp đối địch này xuất hiện khá nhiều lần trong kinh điển nguyên thủy như là hai đại biểu cho lý tưởng hòa bình và chiến tranh trong thiên giới và trong loài người. Có khi cả hai cũng đại biểu cho lối sống cảnh giác và buông lung. Thoạt kỳ thủy, cả hai cùng sống chung hòa bình trên đỉnh Tu-di, nơi đó trước tiên là lãnh địa của các A-tu-la, sau đó do say sưa mà chúng bị Thiên đế Thích cùng thuộc hạ ném xuống biển và từ đó thiên giới Đao-lợi được thiết lập.
Câu chuyện tranh đoạt thiên giới giữa hai thế lực hiếu hòa và hiếu chiến phản ánh tin tưởng vào sự chiến thắng cuối cùng của phe hiếu hòa. Không những thế, câu chuyện này có thể được giả thuyết là phản ánh một biến cố lịch sử nào đó tồn tại dưới lớp sương mù thần thoại. Thế nhưng, mối quan hệ từ hòa hợp đến xung đột này có thể lần lại dấu vết từ các thi tụng Rig-veda, trong đó A-tu-la không chỉ có quan hệ với Thiên đế Indra, mà còn quan hệ với các thần khác, nổi bật là Varuṇa và Mithra.
Lần về quá khứ xa hơn nữa, từ thời đại mệnh danh Indo-Iranian tiền Veda, mà dấu vết còn có thể tìm thấy trong Avesta của Ba-tư giáo qua bộ ba Mithra, Apąm Napāt, Ahura Mazdā. Về mặt ngữ âm, Apąm Napāt trong tiếng Avestan, có nghĩa là “Miêu duệ của thần Nước (Ap)”, dễ gợi lên sự đồng nhất với Apām Napāt của Rig Veda.[12] Trong thi tụng này, Apām Napāt không chỉ cho danh hiệu một vị thần nào, mà chỉ gọi chung chung là một Asura, được xưng tụng như là một động lực “thúc ruổi nhanh” (āśuhemā) vốn là tính chất của nước (apām). Ruổi nhanh, và sáng tạo, đây cũng là hai phẩm từ được Avesta dùng để mô tả Apąm Napāt. Avesta Yasht 19.52 nói, “Chúng tôi hiến lễ lên Apan Napat, đức Chúa Tối Cao (bərəzantəmahurəm), sáng chói, ruổi nhanh như thần mã. Ngài là vị đại hùng ban ơn cho những ai cầu khẩn. Ngài sáng tạo con người, nặn hình con người. Ngài là vị thần sống dưới nước, đáp ứng nhanh khi nghe tiếng kêu cầu.”
Apąm Napāt được tôn xưng như là một Ahura, mà Rig Veda dẫn trên cũng xưng là Asura. Ahura là tôn hiệu thường dùng cho Ahura Mazdā, cùng với Mithra hợp thành tam vị (trinity).
Nước là nguồn sống, là yếu tố linh thiêng trong nhiều dạng tín ngưỡng Ấn-độ, như mọi người đã biết. Apąm Napāt trong tam vị vẫn chiếm giữ địa vị quan trọng trong thần thoại sáng thế giai đoạn tiền Zoroastre. Càng về sau, vai trò này càng lu mờ, nhường chỗ cho Ahura Mazdā là vị Thiên Chúa sáng tạo duy nhất trong tín ngưỡng nhất thần của Zoroastria.
Trong sự diễn tiến của thần thoại Veda, địa vị của Varuṇa cũng tương tự, nếu ta có thể đồng nhất với Apam Napat trong Avesta với Veda. Sự đồng nhất này còn là vấn đề tranh luận.[13] Tuy vậy, thi tụng này cho phép suy diễn: “Ngài (Agni) là Thần Nhãn và là vị Hộ trì Thiên luật (ṛta). Ngài là Varuṇa khi hành động vì Thiên luật. Hỡi Jātaveda, Ngài là Con của Thần Nước (Apāṃ Napāt), là sứ giả của đấng thọ dụng vật hiến tế.”[14] Jātaveda nói đây là một biệt danh của thần Lửa Agni.
Varuṇa trong Veda là thần Bầu Trời, thần Nước, thần Đại dương, và quan trọng hơn hết, là thần duy trì Thiên luật, nguyên lý hay quy luật điều hành trật tự vũ trụ, và cũng là công lý duy trì trật tự của xã hội loài người. Rig Veda ca tụng: “Hỡi Varuṇa, vị Hiền Trí của toàn thể, ngài ngự trị cả bầu trời và mặt đất...”[15]
Varuṇa được ca ngợi là vị Hiền trí; và Mazdā trong ngôn ngữ Avestan cũng có nghĩa là trí tuệ. Vậy, khi nói Avesta nói Ahura Mazdā, cũng tương tự như Veda nói Asura mehda, A-tu-la hiền trí.
Varuṇa được ca tụng như là A-tu-la hiền trí còn được thấy trong một thi tụng khác của Veda: “Hỡi Varuṇa, tôi phủ phục trước cơn thịnh nộ của Ngài, bằng tế lễ, tế vật này. Hãy xá tội cho chúng tôi, hỡi vị A-tu-la hiền trí, hỡi đức Vua; hãy giải trừ những việc chúng tôi đã làm.”[16]
Và rồi ngay trong các thi tụng từ Rig Veda, mà người ta có thể xác minh là thuộc một thời đại về sau xa, địa vị của Varuṇa đã bị giáng. Thi tụng thứ 124 trong sách thứ 10 của Rig Veda nhắc đến Tổ phụ Asura (pitṛ asura) một thời được sùng kính tán dương, nhưng rồi địa vị ấy được thay thế bởi Indra, qua rồi những Agni, Soma, Varuṇa... Những Asura này đã mất hết quyền lực huyễn hóa (nirmāyā u taye asurā abhūvan).[17]
Indra trước kia cũng là một trong số các Asura, là vị Hộ thế thiên vương.[18] Sự hoán chuyển quyền lực giữa các Indra và Asura được giả thuyết là phản ánh một giai đoạn chiến đấu nào đó của người Aryan, mà bấy giờ Varuṇa vốn là vị thần bảo vệ công lý không đủ sức mạnh để được tôn làm thủ lãnh. Địa vị này được trao cho Thiên đế Indra. Giả thuyết khác nói đến sự phản ánh về một sự phân hóa như thế nào đó đã xảy ra giữa nhóm chủng tộc Indo-Iranian. Sự phân hóa hay tranh chấp này dẫn đến sự kiện người Ba-tư Bái hỏa giáo tôn sùng Ahura Mazdā và đẩy các daeva vào hàng ác thần chống lại lẽ phải. Ngược lại, người Aryan, tổ tiên của dân Ấn, tôn sùng Indra thủ lãnh các deva chống lại các asura được liệt vào loại hung bạo.
Ở đây cũng nên lưu ý về sự tương đồng giữa hai nhóm ngôn ngữ sử dụng bởi Avesta và Veda. Ahura trong Avesta tương đồng với Asura trong Veda; trong đó có sự hoán chuyển giữa âm h và âm s, nhưng được thấy trong cặp từ tương đối haoma <> soma, hay hindu <> sindhu. Về mặt ngữ nghĩa, trong tiếng Avestan, ahura do động từ ah: là, tồn tại. Trong Sanskrit Veda, ý nghĩa cũng tương tự, asura do động từ as: là, tồn tại, như được thấy trong từ sattva (hữu tình, hay chúng sinh) cũng do gốc động từ as. Ahura và Asura như vậy đều chỉ hữu thể tối cao, nghĩa là thần linh. Mặt khác, daeva và deva đều hàm cùng ý nghĩa: sự chiếu sáng.
Sau thời Veda, Asura được hiểu với ngữ nguyên khác: a-sura: phi thần. Bởi vì, sura có nghĩa là thần, được giả thiết cùng ngữ tộc với từ svar, chỉ bầu trời, khung trời, thiên giới (svarga: sinh thiên). Các định nghĩa của Tì-bà-sa đại ý cũng như đây. Trong khi đó, truyền thống Pāḷi do hiểu sura là rượu nên dệt thành chuyện kể rằng, các A-tu-la do say rượu mà bị Indra Thiên đế Thích cùng thuộc hạ ôm ném xuống biển; khi chúng tỉnh dậy, hiểu ra rằng do say sưa mà bị ném khỏi thiên quốc, nên thề thốt từ đây trở đi tuyệt đối không uống rượu (a-sura).
Kinh Phật cũng gọi các A-tu-la là “cựu thiên”[19] (Pāḷi: pubbadeva)[20] , điều này chứng tỏ cho đến thời Phật, hay trễ hơn một chút, A-tu-la vẫn còn được kể vào hạng chư thiên. Nhất thiết hữu bộ không đặt riêng A-tu-la ngoài chư thiên, cho nên, thay vì nói có sáu thú hay sáu nẻo luân hồi, họ chỉ nói có năm thú. Tuy vậy, Tì-bà-sa giải thích ngữ nguyên từ này phân tích thành a-sura[21] như được hiểu trong các Veda hậu kỳ.
Các Veda về sau, có thể trước cả thời Phật, sự xung đột giữa chư thiên deva và asura trở nên gay gắt, và trong tin tưởng của người Aryan định cư trên toàn lưu vực sông Hằng, asura mất hẳn những phẩm tính được ca tụng trong Rig Veda, để trở thành đại biểu cho phẩm tính xấu xa, như Bhagavad Gīta định nghĩa: “Mạn, kiêu mạn, tăng thượng mạn, sân hận, thô bạo, vô trí, đó là bẩm tính của a-tu-la.”[22]
Kinh Phật mô tả cuộc chiến ly kỳ giữa chư thiên lãnh đạo bởi Thiên đế Thích chống lại chúng A-tu-la dẫn đầu bởi Tì-ma-chất-đa (Vepacitta/ Vemacitra). Sự xung đột giữa các A-tu-la (Asura) và Chư thiên (deva) mà thủ lãnh là Indra cũng được đề cập trong Traittirīya Samhitā, và sự kiện chư thiên bị A-tu-la đánh bại cũng được đề cập trong Aitareya Brāhmaṇa.[23]
Trong trận chiến này, Thiên đế Thích lập các tuyến phòng ngự từ biển lên cho đến sườn núi Tu-di. Ngoài ra, còn cầu viện đến chư thiên các tầng trên, từ trời Diệm-ma cho đến Tha hóa Tự tại. Nếu nhìn theo khía cạnh lịch sử, trận chiến này có một ý nghĩa rất quan trọng, trong đó có sự liên minh giữa các thế lực.
Thoạt tiên, quân của Thiên đế Thích đại bại; nhưng sau đó phản công và chiến thắng, bắt được thủ lãnh A-tu-la rồi hai bên thảo luận hòa ước. Cuộc thảo luận được chép trong kinh lấy đề tài nên chiến hay nên hòa. Cuối cùng lý luận về hòa bình được chấp thuận.[24]
Dấu vết của một hòa ước như vậy không tìm thấy trong điển tịch cổ Ấn-độ. Tuy thế, trong hòa ước giữa Mitanni và Hititite[25] có nhắc đến các thần Mitra, Varuṇa, Indra và Nasatya (Mitrašil, Uruvanaššil, Indara, và Našatianna theo ngôn ngữ Hurian), khiến người ta liên tưởng đến sự kiện lịch sử này, xảy ra khoảng 1380 tr.TL, được lưu truyền thành mẫu thần thoại với mâu thuẫn xung đột giữa các deva và asura.
Chuyện kể bởi kinh Phật không nhắm chủ đích lịch sử, mà chỉ vì đề cao chủ nghĩa nhân đạo và hòa bình, do đó tập trung vào hai điểm. Điểm thứ nhất, khi Thiên đế Thích thua chạy, kéo quân qua một khu rừng, bấy giờ ông thấy có tổ chim non trên cây, vì không muốn làm hại chim nên quyết định quay trở lại chiến đấu. Quân A-tu-la thấy quân của Thiên đế Thích đang tháo chạy đột nhiên quay trở lại; chúng ngỡ là có phục binh, bèn hoảng sợ mà tan vỡ, dẫn đến bại trận. Sau đó, điểm thứ hai, trên thiên quốc Đao-lợi, Thiên đế Thích tổ chức nghị hòa. Trong hội nghị tranh luận này, chủ nghĩa hòa bình được chấp nhận. Chư thiên và A-tu-la liền ký hòa ước với nhau.
Thần thoại hay lịch sử chỉ có ý nghĩa khi mà được kể lại với định hướng giáo dục.
iii. Sumeru - axis mundi
Núi Tu-di và bốn châu thiên hạ bao quanh nó: đây là hình ảnh quen thuộc về thế giới thường được mô tả khi nói đến vũ trụ luận Phật giáo. Điều có thể biết là những chi tiết liên hệ về Tu-di như vậy chỉ là sự phát triển về sau; vì ngay trong các A-hàm, mà thứ nhất là Trường A-hàm lại không thấy nhắc đến Tu-di trong các kinh chính tương đương Pāḷi. Nó chỉ được mô tả chi tiết trong phần cuối, Khởi thế kinh, mà kinh này không có Pāli tương đương. Các bộ A-hàm khác nhắc đến Tu-di trong trường hợp mô tả tình hình thế giới này bị hủy hoại. Ngụ ý mô tả được thấy rõ: tất cả đều chịu quy luật vô thường, to lớn như Tu-di cũng không bền vững lâu dài.[26] Hoặc khi khác có dẫn đến, thì chỉ dùng làm thí dụ chỉ cho sự to lớn bậc nhất.[27] Trong các luận thư A-tì-đạt-ma về sau, và trong các kinh điển Đại thừa, Tu-di là ngọn núi chiếm trung tâm thế giới, trên đỉnh của nó là thiên quốc của ba mươi ba ông trời, đứng đầu là Thiên đế Thích.
Ba điểm này: trung tâm thế giới, trú xứ các thần hay chư thiên, và cao nhất, là những đặc điểm chung được thấy trong hầu hết các thần thoại tôn giáo của các nền văn minh cổ đại, từ Lưỡng Hà, thung lũng Punjab, sang đến cả Hy-lạp, và cả tộc dân Ural-Alta trên các thảo nguyên Trung Á.
Vishnu-Puraṇa mô tả: Thế giới này gồm có bảy châu lục, bao quanh bởi bảy biển. Trong các châu, Jambu (Diêm-phù) là trung tâm; và ngay giữa trung tâm Jambu là ngọn Meru (Tu-di) bằng vàng ròng. Núi cao 84000 do-tuần (yojana) và sâu xuống bên dưới mặt đất là 16000 do-tuần. Đường kính trên đỉnh là 32000 do-tuần và đáy của nó cũng vậy, khiến cho Tu-di có hình dáng như một đài gương sen, hay hình phễu đâu chõm với nhau. Bao quanh Tu-di có bảy ngọn núi. Ở giữa các rặng núi này là các varṣa hay các địa khu; đó là xứ Bharata (Ấn-độ), phía nam Tuyết sơn (Himavan). Trên đỉnh Tu-di là đô thành rộng lớn của Brahman, đấng Tự hữu (svayambhū).[28]
Ngoại trừ những khác biệt về số lượng núi, biển, cùng với chiều kích của núi, mô tả này của Viṣṇu-puraṇa đại loại như Câu-xá. Điều này có nghĩa là A-tì-đàm đã thâu thái truyền thuyết từ các giáo phái Veda. Tuy vậy, khác với các phái tôn giáo trong truyền thống Veda, Câu-xá không xem Tu-di hay Sumeru là ngọn núi thiêng, trên đó Brahman và các thần linh bất tử thường trú.[29] Tu-di, gọi là núi, cũng chỉ là một dãy cao nguyên trên đó không có thần linh bất tử, mà chỉ là một lớp chúng sinh do đời trước hành nhiều điều thiện nên tái sinh lên đây với đời sống nhiều hoan lạc được mệnh danh là chư thiên hay thần linh theo các tôn giáo và tín ngưỡng nhân gian.
Mặt khác, Mahābharata mô tả: “Núi Tu-di rực rỡ, không dao động, chiếu diệu huy hoàng bậc nhất. Ánh sáng của tia nắng mặt trời lan tỏa với những chóp đỉnh sáng chói bởi vàng ròng. Trang nghiêm bằng hoàng kim, sắc màu muôn vẻ; nơi đó chư thiên và càn-thát-bà (gandharva) thường lai vãng; những kẻ vô đạo phi pháp không lên đến được. Nó là ngọn núi vĩ đại, cực cao, đứng thẳng vươn lên hư không; (dưới chân núi là nơi mà) sư tử hổ báo thường du hành, và ngời sáng bởi các loại dược thảo.”[30]
Sự mô tả linh địa thần thánh này khiến người ta liên hệ đến núi Hara Berezaiti trong Avesta của Cổ Ba-tư giáo.
Khorda Avesta, trong lời cầu nguyện dâng lên các thần Mithra, cùng với Sraosha, Rashnu, Ardvi-sura, Anahita, ca tụng rằng Ahura Mazda đã tạo ra trú xứ cho Mithra trên Hara, ngọn núi sáng rực rỡ, với mặt trời, mặt trăng, tinh tú xoay chung quanh; nơi đó không có đêm, không có tối, không có gió lạnh rét, không có gió nóng rát, không có bệnh, không có những thứ bất tịnh bởi các Daeva. Mây không bay cao lên đến Hara. Chính Mithra là vị thần đã đến Hara Berezaiti trước khi thần Mặt trời, vốn có tốc độ thiên mã, đến được nơi đây.[31]
Căn cứ vào sự tương đồng này, các học giả chủ trương nguồn gốc chung của văn minh Lưỡng Hà và thung lũng Punjab (Proto-Indo-Iranian) tìm thấy chứng cứ vững vàng cho quan điểm của mình.
Hình ảnh Tu-di như vậy được diễn giải là quan niệm của người cổ đại về mẫu kiến trúc (archetype) của vũ trụ với tâm điểm là một ngọn núi cao. Ý tưởng này ảnh hưởng lên các nghệ thuật kiến trúc cổ đại, cả cho đến thời cận đại, trong nhiều nền văn minh khác nhau.
Mô hình vũ trụ với tâm điểm là núi như là trục thế giới (axis mundi) này được giả thuyết là chịu ảnh hưởng từ mẫu kiến trúc tối cổ, những ziggurat từ văn minh Lưỡng Hà, dựng bởi người Sumer, Babylon, Elamite, Akkadia, Asyria, khởi đầu có thể từ thời Ubaid, tiền văn minh Lưỡng Hà, khoảng 6500-3800 tr.TL. Những ziggurat được xem như những kim tự tháp có chóp bằng, nhiều tầng, phổ thông là 7 tầng. Nổi tiếng vĩ đại là ziggurat Ur ở Nasiriya, nay là tỉnh Dhi Qar thuộc Iraq. Chúng chỉ có thể đối chiếu với Tu-di về mặt tượng trưng; về mặt hình thức, không hoàn toàn giống nhau.
Các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến hình tượng Tu-di trong các mẫu kiến trúc Phật giáo, đại biểu là kiến trúc Borobudur ở Java, Nam dương. Thế nhưng, hình tượng Tu-di là một đài sen, có đỉnh mặt bằng, trong khi các mẫu kiến trúc tháp hình thon có nóc nhọn, hoặc hình bát úp.
Đại khái, núi Tu-di được nhắc đến trong kinh Phật không có ý nghĩa gì đặc biệt ngoại trừ đó là sự vay mượn các giai thoại, thần thoại, trong nhân gian, rồi chuyển hướng thần thoại sang mục đích giáo dục tu đạo. Tất nhiên cũng có những người Phật giáo tin các ngụ ngôn ấy là sự thực và nỗ lực đi tìm vị trí đích thực của nó trong thế giới hiện thực này.
Dù sao, các ngọn núi thiêng trên thế giới, từ Sumeru, Haraberrezaiti, Olympíc, cho đến vùng đất Meropis đã mất dấu, đều được nghiên cứu, xác định vị trí, như là nỗ lực tìm về nguồn gốc chung, về cái nôi chung của văn minh nhân loại. Vì mỗi dân tộc trong một nền văn minh nhất định thường xem xứ sở của mình là cái rốn của vũ trụ, do đó hòn núi cao ngất trong xứ của mình cũng được xem là “cột trụ chống trời”, là một axis mundi. Cái trục mà cả thế giới ngoại vi xoay quanh nó. Điểm cụ thể mà ta có thể nghĩ ra nguồn gốc của ý tưởng này là, bất cứ đứng trên điểm nào, từ mặt đất nhìn lên bầu trời, con người trong phần bán cầu Bắc đều thấy chòm sao Bắc đẩu trên đỉnh đầu xoay quanh một trục cố định tưởng tượng. Mặt trời, mặt trăng, các tinh tú đều xoay quanh trục ấy. Cho nên, người ta có thể hiểu lý do các Puraṇa, cũng như Avesta, đều mô tả Meru, và Haraberezaiti, là ngọn núi làm tâm điểm cho các thiên thể ấy xoay vần.
Axis mundi, trục vũ trụ, là núi trong một số thần thoại, mà trong số khác, nó là cây. Nếu theo dõi các loại cây thiêng trong nhiều mẫu thần thoại khác nhau, người ta cũng dễ dàng hiểu được ý nghĩa tượng trưng của nó. Cây thiêng mọc trong một khu rừng nguyên thủy, dưới gốc cây đó, một thời xa xưa từ khởi thủy, loài người đã sống một đời an ổn vui vẻ. Có thể nói, hình tượng cây thiêng là hình tượng một thiên đường mà loài người đã mất dấu để rồi phải lang thang trong thế giới đày ải khổ lụy.
Trong thần thoại sáng thế của người Sumeria, ta có cây huluppu: Một thời xa xưa, rất xa xưa, sau khi thần An và Enlil đã tạo dựng trời đất... Bấy giờ, bên bờ sông Euphrates mọc lên cây, một cây huluppu, được tưới bằng nước sông Euphrates. Rồi một cơn gió nam mãnh liệt thổi bật gốc nó, cuốn theo dòng nước. Inanna, nữ vương của bầu trời, đang đi dọc theo bờ sông, vớt nó lên, đem về trồng trong vườn cây của mình, chăm sóc cẩn thận, hy vọng sau này khi cây thành to lớn, sẽ làm một cái ghế để ngồi, một cái giường để nằm. Nhưng khi cây lớn, Inanna không thể đốn cây xuống được. Vì có một con rắn không sợ thần chú làm tổ dưới gốc cây. Trên ngọn cây là một con chim Anzu tinh quái làm tổ cho chim non. Ở giữa, một ma nữ Lilith dựng một căn nhà. Inanna ngồi khóc. Rồi thì, anh hùng Gilgamesh xuất hiện, diệt con rắn. Chim Anzu thấy nguy, tha con bay lên núi. Người phá nhà và bỏ trốn vào vùng đất hoang. Ông đốn cây, chặt ngọn, tỉa cành, làm cho Inanna một cái ghế, một cái giường...[32]
Trên đây là mẫu sử thi của người Sumer viết bằng mẫu chữ hình nêm, thuật chuyện anh hùng Gilgamesh, vị vua thứ năm thuộc vương triều Uruk đệ nhất, khoảng 2700-2500 tr.TL. Dấu vết của sử thi này còn thấy khá nhiều mẫu trong Thánh kinh Do thái (Cựu ước), sách Sáng thế ký (Genesis). Đoạn văn mộc mạc, ngôn ngữ của thời xa xăm ấy, cần được phiên giải trên nhiều cơ sở để có thể hiểu được ý nghĩa. Trong đây, ta chỉ có thể liên hệ đến sự hiện diện bên cạnh cây huluppu là một con rắn, một con chim Anzu, và người nữ Lilith. Những yếu tố này họp lại trong vườn cây của Inanna, thì cũng bằng ấy yếu tố với tên gọi khác đi tạo thành khu vườn Eden. Nó gợi lên mối liên hệ nào đó với cây nguyên thủy trong vườn Eden, do sự cám dỗ của một con rắn mà Eva đã xúi dục Adam phạm tội với Thiên Chúa.
Các nhà giải thích thần thoại cho rằng chuyện kể này chỉ dấu vào sâu trong vô thức loài người nguyên thủy với khát vọng tính dục, ý thức phạm tội vì tính dục, và sự che đậy hành vi tính dục.[33]
Mối liên hệ giữa Lilith trong thần thoại Sumeria, và Lilith trong Do thái, là vấn đề chưa có kết luận dứt khoát giữa các nhà nghiên cứu.[34] Nhưng trong truyền thuyết nhân gian Do thái,[35] ngoài Thánh Kinh, câu chuyện sáng thế kể rằng người phụ nữ đầu tiên mà Thiên Chúa tạo ra cùng với Adam không gọi là Eva mà gọi tên là Lilith. Jammy Joe cho rằng, về sự kiện này, Genesis 2-3 mang đầy kịch tính hơn Genesis 1:26-28 trong đó Chúa tạo ra người nam và người nữ cùng một lần. Theo The Alphabet of Ben Sira, Lilith đòi quyền bình đẳng với Adam, lý luận rằng bà cũng được Chúa tạo ra bằng cát bụi như ông. Adam không chấp thuận. Lilith không chịu phục, bà gọi tên Chúa, rồi mọc cánh và bay đi mất vào Biển Đỏ.[36]
Trong thần thoại Ấn-độ, một loại cây thiêng cũng được nhắc đến trong Rig Veda: dưới gốc cây, không rõ cây gì, tàn lá tốt tươi, nơi mà Yama uống rượu với các thần, nơi đó người cha, vị gia trưởng, dẫn dụ các vị túc cựu. [37] Đây là bài tụng thứ nhất trong 7 thi tụng về Yama, vị thần cai quản cõi chết; cũng gọi là Yamarāja (Diêm vương). Yama ngồi đợi những vị túc cựu, những bậc lão thành, dưới gốc cây sự sống với tàn lá xum xuê. Atharva Veda cũng nói đến cây Aśvattha, ở đó chư thiên hái được cỏ thuốc bất tử kuṣṭha. [38] Cả hai đoạn dẫn không cho thấy sự đề cao quan trọng của cây thiêng. Nhưng được diễn giải rằng, nó biểu tượng cho nguồn sống từ giới tự nhiên, và sự sống từ thiên nhiên có căn nguyên từ thiên giới. [39] Giải thích này cũng không cho thấy ý nghĩa gì quan trọng. Thế nhưng, cây hoa Parijāta lại có ý nghĩa đặc biệt, và được nói đến trong kinh Phật.
Về nguồn gốc cây Parijāta, truyền thuyết kể rằng Công chúa Parijātaka yêu thần Thái dương, nhưng không được thần đáp ứng, do vì thất vọng mà tự tử, hóa thành cây này.[40] Truyện kể khác nói rằng Nara mang hoa Pārijata từ thiên quốc của Indra tặng cho Kṛṣṇa, và Kṛṣṇa tặng hoa này lại cho người vợ cả là Rukmini khiến cho vợ thứ là Satyabhamā sinh tâm ghen tức. Để làm hài lòng bà này, ông mang luôn cả cây pārijāta về trồng trong vườn của Satyabhamā. Cây này có hoa nhỏ xinh đẹp với những cánh màu trắng và cuống hoa màu đỏ, nở về đêm và rụng khi mặt trời mọc, có công hiệu chữa bệnh; hương rất thơm. Thần Viṣṇu trang điểm nó nơi ngực. Hoa làm mọi người được mãn nguyện.[41]
Tên của nó được đặt làm nhan sách luận về thiên văn học, Jātaka Pārijāta, soạn bởi Vaidyanatha Dikṣita, khoảng 1425-1450 tr.TL. Ý nghĩa thiên văn của nó được ám chỉ trong kinh Phật.
Kinh nói, trong cõi trời Tam thập tam có cây Trú độ, khi lá cây vàng úa, chư thiên vui mừng vì biết không bao lâu lá sẽ rụng. Khi lá rụng, chư thiên vui mừng vì biết không bao lâu sẽ nảy chồi, lần lượt vui mừng như vậy cho đến khi hoa nở trông như cái bát, sắc màu sáng chói, hương thơm lan tỏa chu vi trăm do-tuần. Sự kiện này thí dụ cho quá trình xả gia, xuất gia của vị Thánh đệ tử, cho đến khi đạt đến A-la-hán lậu tận.[42]
iv. Thế giới hải
Một yếu tố khác trong kho thần thoại cổ, là vai trò đại dương vũ trụ (cosmic ocean) trong sự giải thích hay miêu tả khởi nguyên của thế giới và loài người.
Thần thoại của người Sumeria, được lưu truyền khoảng trên 4000 năm trước TL, trước cả thời Thánh kinh Do-thái được ghi chép, kể rằng Nammu là nữ thần của Biển Nguyên thủy, là bà mẹ sinh ra trời (thần An/ Anu) và đất (thần Ki): Khi mà bên trên chưa được gọi là trời, và bên dưới chưa được gọi là đất, bấy giờ đã có Abzu, thần đại dương nước ngọt, tối sơ, là cha sinh; và Tiamat, thần nước mặn, hỗn độn, bà mẹ đẻ, sinh ra cả hai.[43]
Từ Biển Nguyên thủy Nammu sinh ra vòm trời và đất. Thần Trời gọi là An. Thần Đất gọi là Ki. Nammu cũng là mẹ của thần Enki, vị Thần Nước (nước biển, nước hồ), ẩn sâu trong lòng đất, và từ đó phát xuất những sông, suối, các nguồn nước, vốn là nguồn sống của các sinh vật. Chính thần nữ Nammu nảy sinh ý tưởng sáng tạo nên loài người. Bà đánh thức con mình là Enki đang ngủ say trong Abzu. Enki tỉnh dậy, nắn đất sét thành người.[44]
Thần thoại sáng thế của người Do thái về cốt tủy không khác với truyền thuyết của người Sumeria bao nhiêu; nhưng nói rằng có phải bắt nguồn từ đó hay không, điều này tùy thuộc thái độ tín ngưỡng. Dù vậy, điều tương tự này có thể đọc thấy trong sách Sáng Thế ký (Genesis): “1 Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. 2 Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.”[45]
Văn minh và tôn giáo Ấn-độ bắt đầu với các thi tụng Veda. Các Tiên nhân khải thị (Ṛṣi) truyền tụng Ṛg Veda, trong khi chiêm nghiệm khởi nguyên vũ trụ, thấy rằng, thoạt kỳ thủy không có gì hết, không tồn tại (sad) cũng không phi tồn tại (asad), không có bầu trời, không có mặt đất, không có sự sống, sự chết, tất cả bao trùm bởi nước sâu không đáy với một màu đen huyền bí.[46] Trên đại dương vũ trụ mênh mông ấy phát sinh một bào thai bằng vàng (hiraṇyagarbha: kim thai): “Thoạt kỳ thủy, Kim Thai là Tổ Phụ độc nhất của các sinh loại. Ngài chỉ trì đại địa…”[47] Thai vàng này trôi trên mặt nước rỗng không, bao trùm trong bóng tối vô thể.[48] Sau đó, thai vàng nứt làm hai, một nửa thành bầu trời và một nửa thành khối đất.[49]
Thần thoại sáng thế được kể theo sách Luật Manu rằng, thoạt kỳ thủy, vũ trụ chỉ toàn là một khối bóng tối mênh mông, không thể diễn tả, không thể biết, không thể nghĩ đến. Rồi đấng Tự Hữu (Svayambhu) tạo ra tất cả cõi này, các nguyên tố đại chủng, và bằng thần lực tối thắng, xua tan bóng tối, muốn tạo ra vạn vật từ chính tự thân, khởi lên ý nghĩ đầu tiên là sáng tạo ra nước và đặt chủng tử của mình vào đó. Hạt chủng tử này trở thành bào thai bằng vàng, sáng chói như mặt trời, và từ trong thai tạng này tự thân Svayambhu xuất hiện thành Brahman, tổ phụ của tất cả mọi loài. [50]
Tuy là yếu tố tầm thường trong sinh hoạt thường nhật, nhưng với hầu hết sắc dân trên thế giới nước là nguồn sống linh thiêng, cho nên nó chiếm giữ ý nghĩa quan trọng trong các thần thoại sáng thế. Người Ấn-độ, Bà-la-môn giáo cũng như Kỳ-na giáo đều có ý tưởng đặc biệt về nước, nghi thức sử dụng nước. Vì nước, tại một con sông nào đó, được cho là có thể rửa sạch tội lỗi. [51] Trong Phật giáo, ngoài nhu cầu thường nhật, nước không có ý nghĩa gì đặc biệt. Biển được nói đến chỉ dùng làm thí dụ, cho trí (biển trí) chẳng hạn, vì sự mênh mông và sâu thẳm của nó, cũng như các loại chúng sinh có thân hình to lớn đều từ biển. Đức Phật cũng cảnh giác các đệ tử trong sự dùng nước để không trở thành một thứ tín ngưỡng. Vì vậy, các thứ thần thoại khác được vay mượn để làm thí dụ, trong khi đó thần thoại về nước nguyên thủy hoàn toàn không được đề cập đến trong kinh Phật.
Tuy nhiên, trong sự nghiên cứu ý nghĩa thần thoại, trên phương diện nào đó, theo một phương pháp luận nào đó, nước có thể phản ánh những ức chế, những khát vọng, những tâm tư uất khuất gì đó, ẩn giấu sâu kín trong tâm thức loài người trong từng cộng đồng cá biệt trong phạm vi ảnh hưởng thiên nhiên, xã hội như thế nào đó. Cũng có khi nó phản ánh ý nghĩa lịch sử hay địa lý trong một thời đại và tại một địa phương nào đó. Đây là điều cần tìm hiểu qua ý nghĩa của thần thoại học…
Huongtichbooks
Trích Chương 1, A-tỳ-đạt-ma câu-xá tập II.
» Đặt mua sach/xin thỉnh kinh sách ấn tống (ưu tiên các tự viện, tăng ni sinh), xin gởi email về: huongtichbooks@gmail.com

[1] Thí dụ, Vườn Eden thực sự không phải là một mảnh vườn, mà là một ngôi làng của người Sumer có tên là Ehdin, khu vực nông nghiệp của văn minh thủy lợi trong lưu vực Lưỡng Hà. Cf. Christian & Barbara Joy O'Brien, The Genesis of the Few (Câu chuyện về những người xây dựng vườn Eden), 1885.
[2] Xem đoạn sau, cht. 8.
[3] Thánh Thư của Bái hỏa giáo Ba-tư (Zoroastrism), viết bằng ngôn ngữ Avestan, tiếng của miền Đông Iran cổ đại, soạn tập trong khoảng 700 năm vào thế kỷ thứ 6 tr. Tl. Phần đầu là những Gatha, thi tụng được soạn tập bởi chính Giáo Tổ Zoroaster. Ngôn ngữ Avestan thuộc nhóm Indo-Iranian, nhánh lớn của ngữ tộc Ấn-âu.
[4] Encyclopedia Iranica, mục từ INDO-IRANIAN RELIGION. Các học giả Ấn-độ giáo cực lực phản đối quan hệ này.
[5] Manu Smriti 2.22: ā samudrāt tu vai pūrvāt ā samudrāc ca oaścimāt/ tasyor eva-antaraṃ giryor āryāvartaṃ vidūra budhāḥ// Nằm giữa hai dãy núi trải dài từ biển đông và từ biển tây, trí giả gọi đó là xứ sở của người āryan.
[6] Avesta: Vendidad 1.1,2. Translated by James Darmesteter (From Sacred Books of the East, American Edition, 1898).
[7] Maneckji Nusservanji Dhalla, History of Zoroastrianism, New York, 1938; tr.9.
[8] Brahma Dat Bharti, Max Muller: A Lifelong Masquerade, dẫn bởi Jagat Motwani, None But India, [2010] tr. 411. Cf. Devendra Swaroop, Max Muller – Missionary or Scholar, tạp chí Dialogue, quý san của hiệp hội Astha Bharati, January - March, 2008, Volume 9 No. 3: “He tried to uproot our established perceptions of our own past and transplant new ones in their place. We had believed that our Vedas had a divine origin and had existed from eternity. He, by publishing for the first time the full text of the Rig-Veda along with the 14th century commentary by Sayana in six volumes between 1849 and 1873, tried to convince us that RigVeda was man made and that its antiquity did not go beyond 1200 B.C.”
[9] Monier-Williams, mục từ pṛthag-jana.
[10] Theodor Benfey, Sanskrit-English Dictionary.
[11] Donald S. Lopez Jr. Buddhism and Science: A Guide for the Perplexed, 2008; p. 81.
[12] RV ii. 35: apāṃ napād āśuhemā kuvit sa supeśasas karati joṣiṣad dhi || “Phải chăng Con của Thần Nước sẽ làm cho những thi tụng của tôi đáng yêu, và Ngài sẽ thưởng thức chúng?”
[13] Mary Boyce, A History of Zoroastrianism, 1975; tr. 45. cf. Encyclopedia Inranica, mục từ APĄM NAPĀT.
[14] RV 10.8.5: bhuvaś cakṣurmaha ṛtasya gopā bhuvo varuṇo yad ṛtāya veṣi | bhuvo apāṃ napāj jātavedo bhuvo dūto yasya havyaṃ jujoṣaḥ ||
[15] RV 1.25.20: tvaṃ viśvasya medhira divaś ca gmaś ca rājasi |
[16] RV.1.24.14ava te heḷo varuṇa namobhir ava yajñebhir īmahe havirbhiḥ | kṣayann asmabhyam asura pracetā rājann enāṃsi śiśrathaḥ kṛtāni//
[17] RV 10.124.3-5.
[18] RV 1.127.1. tvaṃ rājendra ye ca devā rakṣā nṝn pāhy asura tvam asmān |
[19] 舊天, Trường A-hàm 21, tr. 142a19.
[20] S. 11. 5. Subhāsitajayasuttaṃ (PTS. i.223).
[21] Tì-bà-sa 172, tr. 868b02.
[22] Bhagavad gīta 16.4: dambho darpo'bhimanas cākrodhah paruṣyameva ca ajnanam cabhijātasya partha sampadam asurim.
[23] Dẫn bởi Sarva Daman Singh, Ancient Indian Warfare: With Special Reference to the Vedic Period, tr. 136.
[24] Trường 21, kinh Thế ký, phẩm 10 “Chiến đấu”.
[25] Mitanni, vương quốc cổ đại của người Hurri, nay là Kurdistan, bắc Méopotamia, liên minh với Ai-cập chống lại đế chế Hittite.
[26] Tạp 10, tr. 069b12: “Có lúc, trong một thời gian lâu dài, núi chúa Tu-di cũng hoàn toàn sụp đổ. Chúng sinh bị vô minh trùm kín, bị trói buộc bởi ái kết, mãi chịu luân hồi sinh tử lâu dài...”
[27] Trung 34, tr. 647c17: “Trong các pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất. Như trong các núi, núi chúa Tu-di là bậc nhất.”
[28] The Vishnu Purana, book II, chapter II; translated by Horace Hayman Wilson, [1840], pp. 166.
[29] ibid. p. 169.
[30] Mahabharata, Book 1, chapter 15, phiên âm La-tinh bởi John Bruno Hare, nguồn: Sacred-texts.com.
[31] The Zend Avesta, Part II (SBE23), X. Mihir Yast, Anh dịch, James Darmesteter, [1882], tr. 120.
[32] Gilgamesh Epic, Tablet 12. Cf. Samuel Noah Kramer, Sumerian Mythology, [1944, revíed 1961], tr. 33.
[33] Cf. Johanna Stuckey, Inanna and the Huluppu tree: One Way of Demoting a Great Goddess, Lammas 2005, vol 4-4.
[34] Freedman, David Noel, ed., Anchor Bible Dictionary, (New York: Doubleday) 1997, 1992.
[35] Alphabetum Siracidis, Othijoh ben Sira, tác phẩm được lưu truyền trong khoảng 700-1000 TL.
[36] Jimmy Joe, Dark Mirror of Heaven, 2006.
[37] RV x.135.
[38] RV 6. 95.1, theo bản dịch Anh, Ralph T.H. Griffith, 1895-6.
[39] Paradise Found, by William F. Warren, [1885], tr. 269 n.2.
[40] Monier-Williams: pārijāta, cây san hô (coral), tên khoa học Erythrina Indica (lá rụng vào tháng June và sau đó phủ đầy những đóa hoa lớn màu đỏ thắm); cũng là tên 1 trong 5 loại cây trên thiên giới sản sinh khi chư thiên quậy đại dương thành biển cam lộ và Indra đã chiếm làm sở hữu, sau đó Kṛṣṇa chiếm được. Hán, Trung A-hàm dịch là 晝度樹 trú độ (đạc) thọ, cây trú độ (đạc); Huyền Trang dịch là 圓生樹 cây viên sanh . Pāli: pāricchattaka.
[41] Śrimad Bhagavantam (SB) 8.8.6.
[42] Trung 1, kinh số 2 “Trú độ thọ”. Pāli, A.vii. 65 Pāruchattaka.
[43] Enuma Elish, The Epic of Creation, The First Tablet; bản dịch Anh, L.W.King.
[44] Enuma Elish, The Epic of Creation.
[45] King James Bible, Genesis chap.1: “1 In the beginning God created the heaven and the earth. 2And the earth was without form, and void; and darkness was upon the face of the deep. And the Spirit of God moved upon the face of the waters.”
[46] Xem cht. 45 dẫn trên.
[47] Ṛg-veda x.121: Hiraṇyagarbha sūkta: hiraṇyagarbhaḥ samavartatāgre bhūtasya jātaḥ patirekāsīta | sa dādhāra pṛthvīṃ…
[48] So sánh chuyện Eros trong thần thoại Hy-lạp (Aristophanes, k. 446–386 tr.TL): Thoạt kỳ thủy chỉ có Chaos (thần Hỗn Độn), Nyx (thần Đêm), Erebus (thần Hắc Ám), Tartarus (thần Vực Thẳm). Không có Đất và Trời. Thoạt tiên, Nyx đẻ ra một quả trứng không thụ tinh trong đáy vực sâu vô hạn của Erebus, và từ đó trải qua thời gian rất lâu dài trứng nở, trong đó ra Eros (thần Tình Yêu) có đôi cánh vàng lấp lánh bay nhanh như gió bão. Eros giao hợp với Chaos trong đáy vực Tartarus tối tăm và do đó đẻ ra loài người. Phỏng theo bản dịch Anh, Eugene O'Neill, Birds.
[49] Ṛg-veda x.121: Hiraṇyagarbha sūkta.
[50] Laws of Manu, chapter I, Anh dịch, George Buhler.
[51] Trung 23, kinh 93, “Tịnh thủy phạm chí”: Một người phạm-chí đề nghị Phật đi tắm sông để rửa sạch ác nghiệp.
[51] Thomas Bulfinch, The Age of Fable or Stories of Gods and Heroes,” Introduction, (Bulffinch’s Mythology) [1855].




Lượt xem: 4086 



XEM THÊM CÙNG THỂ LOẠI


- TÙY MIÊN - DANH NGHĨA & PHẨM LOẠI
- NGHIỆP LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA
- NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI (t.t)
- NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI
- TỔNG LUẬN VỀ NGHIỆP
- TỰA TRUNG LUẬN
- LUÂN HỒI NGHIỆP BÁO
- NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT CỦA BỒ TÁT HÀNH
- TỔNG LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ
- DẪN VÀO DUY THỨC HỌC
- THẮNG MAN GIẢNG LUẬN
- DẪN VÀO TÂM KINH BÁT-NHÃ
- BA CỐT TỦY CỦA ĐẠO LỘ
- BỒ ĐỀ ĐẠO ĐĂNG LUẬN
- THỨ TỰ TU TẬP
- TÁM THI KỆ LUYỆN TÂM
- BỒ ĐỀ ĐẠO THỨ ĐỆ NHIẾP TỤNG

TIN SÁCH

Ghi danh để nhận thông báo sách mới qua email.

Ghi danh nhận tin khi có sách mới

LIÊN LẠC

ĐỊA CHỈ

Thư quán Hương Tích
308/12 Nguyễn Thượng Hiền
Quận Phú Nhuận, TP HCM

Điện thoại: 08 3550 0339
Email: huongtichbooks@gmail.com

Kết nối