KINH TRÚ ĐỘ THỌ [Trung A-hàm, phẩm I: Bảy pháp]


Tuệ Sỹ dịch và chú


KINH TRÚ ĐỘ THỌ [Trung A-hàm, phẩm I: Bảy pháp]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, ở tại rừng Thắng Lâm trong vườn Cấp-cô-độc.

I. Chukỳ cây trú độ trổ hoa

Bấy giờ Phật nói với các tỳ-kheo:

1. “Nếu lá cây Trú Độ [1]ở Tam Thập Tam Thiên úa vàng,[2] lúc đó thiên chúng ở Tam Thập Tam Thiên vui mừng hớn hở, cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ rụng.

2. “Rồi thì lá cây ở Tam Thập Tam Thiên đã rụng. Lúc đó Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên vui mừng hớn hở cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ mọc lại.

3. “Rồi thì lá cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên đã mọc lại, lúc đó Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên vui mừng hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ kết ra mạng lưới. [3]

4. “Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên đã kết mạng lưới.

Lúc đó Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên vui mừng hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở nụ giống như mỏ chim.[4]

5. “Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên đã nở nụ giống như mỏ chim.

“Lúc đó Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở hoa giống như cái bát. [5]

[422b] 6. “Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên đã nở hoa như cái bát. Lúc đó Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu hoa sẽ nở tròn trịa.

7. “Khi cây Trú Độ nở hoa tròn trịa, nó chiếu ra ánh sáng, màu sắc và tỏa ra mùi thơm trong chu vi trăm do-tuần.[6] ;Lúc bấy giờ vào tháng tư mùa hạ, các vị Tam Thập Tam Thiên vui đùa với năm món dục lạc cõi trời. Đó là Tam Thập Tam Thiên tập trung dưới cây Trú Độ mà hưởng thọ sự hoan lạc.

II. Quá trình Thánh đệ tử tu tập

1. “Theo ý nghĩa như thế, vị Thánh đệ tử cũng vậy. Khi suy nghĩ đến việc xuất gia, lúc đó vị Thánh đệ tử như là chiếc lá úa vàng, cũng giống như lá cây Trú Độ ở cõi Tam Thập Tam Thiên vàng úa.

2. “Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, với chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo; lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là lá rụng, như lá cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên rụng xuống.

3. “Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử ly dục, ly pháp ác bất thiện, có tầm có tứ,[7] ; có hỷ và lạc phát sinh do viễn ly,[8] ; thành tựu và an trụ[9] ; Sơ thiền; lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là sanh trở lại như lá cây ở Tam Thập Tam Thiên sanh trở lại.

4. “Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử tầm và tứ đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh,[10] ; thành tựu và an trụ Nhị thiền. Lúc đó Thánh đệ tử được gọi là sanh mạng lưới như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên sanh mạng lưới.

5. “Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trụ xả vô cầu[11] ; với chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc; điều mà Thánh nói[12] ; là an trú lạc có xả, và niệm,[13] ; thành tựu an trụ Tam thiền. Lúc đó Thánh đệ tử được gọi là nở nụ như mỏ chim, cũng như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên nở nụ như mỏ chim.

6. “Lại nữa, khi Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh[14] ; thành tựu an trụ Tứ thiền. Vị Thánh đệ tử lúc đó được gọi là nở hoa như cái bát vậy, cũng như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên nở hoa như cái bát.

7. “Lại nữa, khi Thánh đệ tử các lậu đã được diệt tận, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ; vị ấy biết một cách như thật rằng ‘Sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’[15] ; lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là hoa nở tròn trịa, cũng giống như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên nở hoa tròn trịa.

Đó là vị tỳ-kheo lậu tận A-la-hán được Tam Thập Tam Thiên tập hội tại chánh điện Thiện pháp hỏi han khen ngợi rằng: ‘Vị Thánh đệ tử tôn quý đó, ở tại thôn [422c] ấp kia, đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo, các lậu đã hết, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại này tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết một cách như thật rằng, sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Đó là sự tập hội của các A-la-hán lậu tận, như chư Thiên Tam Thập Tam Thiên cùng tập hội dưới cây Trú Độ vậy.”

Phật thuyết như vậy, các vị tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

------------------------

[Trung A-hàm, Tuệ Sỹ dịch & chú. Hương Tích ấn hành, tái bản 2013]


* Tương đương Pāli, A. vii. 65. Pārichattaka. Hán, No 28, No 125(39.2).

[1] Hán: trú độ thọ 晝度樹. Pāli:pārichattaka(Skt.pārijāta:viên sinh thọ圓生樹. Cây san hô (Erythmia Indica) trên trời Đao-lị (Pl. Tāvatiṃsa), làm chuẩn để tính ngày; đồng hồ của trời Đao-lị. No.125 ( 39.2 ) mô tả: gốc cây lớn năm mươi do tuần, cao một trăm do tuần, bóng mát phủ bốn phía, mỗi phía năm mươi do tuần. Các Thiên thần cõi trời Tam Thập Tam Thiên, vào tiết tháng tư thường tụ tập đến đó thưởng ngoạn. No.28 cũng mô tả tương tự.

[2] No.28: cây ấy tức sinh rabán-nỗ-bát-la-xá半努缽羅舍. Pāli: paṇḍupālasa: (lá cây) héo úa.

[3] Hán: sinh võng 生網. Pāli: jālakajāta: nảy mầm chồi non. Bản Hán phân tích: jālaka: màng lưới + jāta: đã sinh. No. 28:bảo võng 寳網. phân tích: jālaka, lưới; + jāta = jātarūpa (?): vàng (hoàng kim).

[4] Hán: điểu trác 鳥啄. Pāli: khāraka, chồi hay lộc.

[5] No. 28, hai giai đoạn: câu-châm-ma-la-ca 俱砧摩羅迦. Pāli: kuḍumalaka, nụ hoa vừa lú); và ca-ca-tả 迦迦寫. Pāli, koraka, nụ hoa).

[6] Nguyên bản: do-diên 由延 (Pl.: yojana); nhưng phổ thông quen với âm do-tuần.

[7] Hán: hữu giác hữu quán有覺有觀. Pāli: sa vitakkaṃ savicāraṃ, câu hữu với tầm (suy tầm) và câu hữu với tứ (tư sát).

[8] Hán: ly sanh hỷ lạc 離生喜樂. Pāli: vivekajaṃ pītisukhaṃ, hỷ và lạc phát sinh từ sự viễn ly (ẩn cư).

[9] Hán: thành tựu du 成就遊. Pāli: upasampajja viharati, sau khi chứng nhập, vị ấy an trụ (sống trong trạng thái).

[10] Hán: định sanh hỷ lạc 定生喜樂. Pāli: samādhijaṃ pītisukhaṃ.

[11] Hán:ly ư hỷ dục, xả, vô cầu du 離於喜欲捨無求遊. Pāli: pītiyā ca virāgā ca uppekkako ca viharati: vị ấy sống (an trú) trong trạng thái xả, không còn hỷ.

[12] Thánh sở thuyết Thánh sở xả 聖所說聖所捨. No 1537 (tr. 484b): Thánh nói là cần phải xả, tức là xả lạc được cảm giác bởi thân. Sớ giải Pāli: yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti… kinti? upekkhako satimā sukhaviharati, điều mà các Thánh nói, đó là gì? an trú lạc có xả và (chánh) niệm.

[13] Hán: xả niệm lạc trụ không 捨念樂住空, nên đọc đúng: (…) lạc trụ thất 樂住室, Pl. sukhaviharati. Từ tương đương Pl. viharati (vihāra, vihārī): an trú, cư ngụ. Danh từ của nó, Hán thường dịch là trụ; nhưng cũng có bản Hán hiểu là đường hay thất (cái nhà) như (bốn) Phạm đường hay Phạm thất mà Pāli tương đương là brahma-vihāra, tức bốn Phạm trụ. Vậy, ở đây Hán dịch: lạc trụ thất, chính xác cần hiểu là lạc trú hay an trú lạc.

[14] Hán: xả niệm thanh tịnh 捨念淸淨. No 1537 (tr.485a): “Lúc bấy giờ, hoặc xả, hoặc niệm, thảy đều được thanh tịnh”. Pāli:upekkāsatiparisuddhiṃ.

[15] Hán: bất cánh thọ hữu 不更受有.




Lượt xem: 1733 



XEM THÊM CÙNG THỂ LOẠI


- GIỚI THIỆU KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
- Tạp A-hàm - Lịch sử truyền dịch
- SỰ IM LẶNG BAO LA BÍ MẬT CỦA NỤ CƯỜI ĐỨC PHẬT
- BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM VỚI PHẨM PHỔ MÔN KINH PHÁP HOA
- CỬA VÀO TUYỆT ĐỐI
- KINH HOA NGHIÊM (GAṆḌAVYŪHA): LÝ TƯỞNG BỒ TÁT VÀ PHẬT
- DUY-MA-CẬT, VỀ SỰ KHAI PHÁT TRÍ TUỆ
- TỰA CỦA TĂNG TRIỆU (DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT KINH)

TIN SÁCH

Ghi danh để nhận thông báo sách mới qua email.

Ghi danh nhận tin khi có sách mới

LIÊN LẠC

ĐỊA CHỈ

Thư quán Hương Tích
308/12 Nguyễn Thượng Hiền
Quận Phú Nhuận, TP HCM

Điện thoại: 08 3550 0339
Email: huongtichbooks@gmail.com

Kết nối