NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI


Tuệ Sỹ dịch và chú


NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI

Tiết 1. MƯỜI HAI CHI DUYÊN KHỞI

Chuỗi tương tục của uẩn được thuyết minh như thế phân thành ba giai đoạn của đời sống.

Pháp duyên khởi như thế,

Mười hai chi, ba tiết.

Trước sau, mỗi tiết hai.

Giữa tám, số trọn đủ. [1]

Ở đây, mười hai chi duyên khởi[2] : 1- vô minh. 2- hành. 3- thức. 4- danh sắc. 5- lục nhập xứ. 6- xúc. 7- thọ. 8- ái. 9- thủ. 10- hữu. 11- sinh. 12- lão tử.

I. NHÂN QUẢ BA THỜI

Nói ba tiết [3] , chỉ ba biên tế: biên tế đầu, biên tế cuối, và biên tế khoảng giữa[4] ; tức ba giai đoạn đời sống: quá khứ, vị lai, hiện tại.

Mười hai chi được thiết lập như thế nào trong ba tiết? Trong hai biên tế đầu và cuối, mỗi tế lập hai chi. Trung tế tám chi. Do đó, thành mười hai chi.

Vô minh, hành thuộc tiền tế. Sinh, lão tử thuộc hậu tế. Tám chi còn lại thuộc trung tế. [5]

Có phải tất cả hữu tình có đủ tám chi trung tế này trong một đời sống này?

Không.

Vậy thì, ai có đủ?

Nói có đủ, là ý nói, hạng bổ-đặc-già-la nào mà trải qua tất cả các phần vị, chứ không phải nửa chừng chết yểu,[6] sắc và vô sắc giới. Vì kinh Đại Duyên phương tiện chỉ đề cập đến bổ-đặc-già-la trong dục giới.[7] Trong Kinh ấy, Phật hỏi A-nan-đà: “Nếu thức không nhập thai thì danh sắc[8] có thể phát triển không?” A-nan-đà trả lời: “Không, bạch Thế Tôn...”

Có khi chỉ nói duyên khởi có hai phần: một thuộc tiền tế; và hai, thuộc hậu tế. Bảy chi đầu, từ vô minh đến thọ, thuộc tiền tế. Năm chi sau, từ ái đến lão tử, thuộc hậu tế, vì nó bao trùm toàn bộ nhân quả tiền tế và hậu tế.[9]

II. THỂ CỦA MƯỜI HAI CHI

Thể của 12 chi, từ vô minh, v.v., là gì?[10]

Vô minh: hoặc quá khứ.

Hành: các nghiệp đời trước.

Thức: uẩn khi kết sinh.

Danh sắc: trước sáu xứ.

Từ đó sinh các căn.

Sáu xứ trước ba hòa.

Xúc: năng lực chưa biết

Nhân dị biệt ba thọ.

Trước dâm ái là thọ.

Ái: tham của, tham dâm.

Thủ: tham cầu thọ dụng,

Nên dong ruổi khắp nơi.

Hữu: nó tạo tác nghiệp,

Dẫn quả hữu tương lai.

Sinh: kết sinh đương lai.

Lão tử: cho đến thọ.[11]

1. Phần vị phiền não[12] trong đời sống quá khứ, ở đây[13] chúng được gọi là vô minh. Vì chúng đồng hành với vô minh. Và vì do ảnh hưởng của vô minh mà chúng hiện hành. Như nói “vua đến”, thì hiểu luôn cả hộ giá cùng đến.

2. Phần vị nghiệp - phước v.v.[14] trong đời trước, mà có quả dị thục trong đời này, ở đây chúng được gọi là hành.

Từ “vị[15] trong câu đầu là xuyên suốt luôn cho đến lão tử.

3. Năm uẩn, trong sát-na kết sinh đầu tiên trong bụng mẹ, gọi là thức.

4. Các giai đoạn trung gian[16] sau khi thức kết sinh, trước khi hình thành sáu xứ, gọi là danh sắc.

Ở đây đáng lẽ nói trước khi bốn xứ[17] hình thành; nhưng nói trước sáu xứ, là căn cứ trên sự đầy đủ vậy.

5. Mắt v.v. đã hình thành, cho đến trước khi có sự xuất hiện tổ hợp ba[18] của căn, cảnh, thức; đây gọi là sáu xứ.

6. Tổ hợp ba, trước khi có khả năng nhận biết các nguyên nhân khác nhau của ba thọ, đây gọi là xúc. Xúc là tổ hợp của ba thành phần[19] .

7. Đã có khả năng nhận biết[20] đặc tính khác biệt về nhân ba thọ nhưng chưa hiện hành dâm tham, đây gọi là thọ.

8. Hiện hành của tham nơi thọ dụng[21] và tham nơi dâm nhưng chưa phát sinh sự truy cầu các đối tượng của chúng, đây gọi là ái.[22]

9. Vì để đạt được các đối tượng hưởng thụ mà dong ruổi tầm cầu khắp nơi, đây gọi là thủ.[23]

10. Do dong ruổi tầm cầu mà tích chứa nghiệp dẫn khởi quả hậu hữu,[24] đây gọi là hữu.[25]

11. Mạng sống đời hiện tại chấm dứt, do lực của nghiệp này khiến dẫn đến kết sinh[26] trong tương lai, đây gọi là sinh.

Chi kết sinh này, trong đời hiện tại chính là chi thức vậy.

12. Sau sát-na sinh, tiến dần đến phần vị thọ trong tương lai, đây gọi là lão tử. Như vậy, chi lão tử chính là bốn chi: danh sắc, sáu xứ, xúc và thọ đời hiện tại vậy.[27]

Như vậy là thể của mười hai chi.

Tiết 2. Ý CHỈ DUYÊN KHỞI

I. BỐN BIỂU THỨC DUYÊN KHỞI

Lại nữa, biểu thức duyên khởi được nói là có bốn: 1- sát-na, 2- liên phược, 3- phần vị, 4- viễn tục.

1. Sát-na duyên khởi.- Thế nào gọi là sát-na[28] ? Chỉ trong một sát-na mà đủ cả mười hai chi.[29] Thí dụ như một người do bị chi phối bởi tham mà gây việc sát sinh, bấy giờ (1) si là vô minh, (2) tư[30] là hành, (3) nhận thức từng sự thể cá biệt là thức, (4) bốn uẩn [31] câu hữu với thức là danh sắc, (5) các căn được định vị trong danh sắc gọi là sắc xứ[32] , (6) sự tiếp cận[33] của sáu xứ là xúc, (7) cảm nghiệm do bởi xúc[34] là thọ, (8) tham[35] ấy chính là ái, (9) các triền cấu[36] [37] là hữu, (11) sự xuất sinh của các pháp này là sinh, (12) trạng thái chín rục của chúng [38] là suy lão, sự hoại diệt của chúng gọi là tử vong.

2-4.-Lại nói, sát-na và liên phược [39] , như được nói trong Phẩm loại túc luận. Luận ấy nói: “Pháp duyên khởi là gì? Tất cả các pháp hữu vi.”[40] Căn cứ tính chất phần vị[41] , mười hai phần vị, mà thể tính là đủ cả năm uẩn, nối kết nhau trong ba đời[42] xuất sinh liên tục không gián đoạn. Phần vị như vậy cũng được nói là có tính viễn tục[43] .

II. THÂM Ý CỦA PHẬT

Trong bốn loại duyên khởi, thâm ý của Thế Tôn muốn nói đến loại duyên khởi nào?

Truyền thuyết ước phần vị,

Gọi chi theo trổi vượt.[44]

Truyền thuyết[45] cho rằng Thế Tôn chỉ căn cứ vào phần vị nói duyên khởi có mười hai chi.

Nếu trong mỗi chi đều có đủ năm uẩn, vì sao chỉ lập tên vô minh v.v.?[46]

Trong các phần vị, nếu vô minh vượt trội nhất, thì phần vị này được gọi là vô minh. [47] Nếu các hành vượt trội, gọi tên chi là hành. Cho đến già chết cũng vậy.[48] Điều này không có gì sai lầm.

Vì sao duyên khởi mười hai chi được nói trong Kinh khác với Phẩm loại túc luận? Luận ấy nói: “Duyên khởi là những gì? Tất cả hữu vi...”[49]

Khế kinh nói thế là do có thâm ý. A-tỳ-đạt-ma y pháp tướng mà nói như vậy; căn cứ sai biệt về phần vị, sát-na, viễn tục, liên phược, hữu tình số, tình phi tình v.v. [50]

III. DUYÊN KHỞI HẠN ĐỊNH

Vì sao Khế kinh nói chỉ hạn định duyên khởi trong hữu tình?

Vì đoạn trừ ngu hoặc

Ba tế tiền, hậu, trung. [51]

[Phật] vì đoạn trừ ngu hoặc trong ba tế [52] của hữu tình vậy. [53]

Hữu tình ngu hoặc về tiền tế như thế nào? Khởi nghi thế này về tiền tế rằng: [54] “Trong quá khứ, ta đã tồn tại hay không tồn tại? Ta đã là cái gì? [55] Ta đã tồn tại như thế nào? [56]

Hữu tình ngu hoặc hậu tế như thế nào? Khởi nghi thế này về hậu tế rằng: [57] “Vị lai, ta sẽ tồn tại ở vị lai hay không tồn tại? Ta sẽ tồn tại thế nào?”

Hữu tình ngu hoặc trung tế như thế nào? Khởi nghi thế này về trung tế rằng [58] : “Cái này là gì? [59] Cái ta này như thế nào Ta đang là ai?[60] Ta sẽ là gì?[61]

Vì để đoạn trừ ba thứ ngu hoặc như thế nên Kinh chỉ nói duyên khởi trong hạn định hữu tình, theo thứ tự: vô minh và hành; sinh và lão tử; và thức đến hữu.

Vì sao biết? Vì Khế kinh nói: “Này các Bí-sô, hãy lắng nghe! Nếu bí-sô, bằng chánh trí, quán sát một cách như thực pháp duyên khởi và duyên dĩ sinh,[62] bí-sô đó không còn nghi hoặc tiền tế rằng ‘Trong quá khứ, ta đã tồn tại, hay đã không tồn tại?’...”[63]

Có luận sư khác nói: Ba chi ái, thủ, hữu cũng nhắm đoạn trừ ngu hoặc vị lai. Vì ba chi này đều là nhân đưa đến quả ở vị lai.

dịch và chú: Tuệ Sỹ
Hương Tích ấn hành 2014.

[1] sa pratītyasamupādo dvādaśāṅgas trikāṇḍakaḥ/ pūrvāparāntayor dve dve madhye’ṣṭau paripūriṇaḥ//20// Ht. 如是諸緣起 十二支三際 前後際各二 中八據圓滿. Cđ. 如此緣生法 十二分三節前後際二二 於中八具生.

[2] pratītyasamutpāda; Ht. 緣起 duyên khởi; Cđ. 緣生法 duyên sinh pháp.

[3] trīṇi kāṇḍāni, ba mắt, ba đốt (như đốt tre); Ht. 三際 tam tế; Cđ. 三節 tam tiết.

[4] pūrvāparāntamadhyāny, 前際, 後際, 中際 tiền tế, hậu tế, trung tế.

[5] Thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ và hữu.

[6] antarala eva mriyate, chết khi tuổi thọ của dị thục chưa dứt. Cđ. hiểu là中陰死 trung ấm tử, chết trong giai đoạn trung ấm.

[7] Ht.: “Chỉ căn cứ bổ-đặc-già-la trong dục giới; vì kinh Đại nhân duyên nói có đủ.” Quang ký: dẫn chứng kinh dục giới có đủ 8 chi. Tì-bà-sa 23, tr. 120a25: “Kinh này nói, do duyên là danh sắc, có sáu xứ; thế thì, hệ thức không thể phổ biến cho cả bốn sinh đạo. Vì trong thai, noãn và thấp sinh các căn phát triển lần lượt ở đó mới có thể nói danh sắc duyên, sáu xứ. Các căn của hữu tình hóa sinh xuất hiện đồng loạt, làm sao có thể nói danh sắc duyên sáu xứ? Chỉ có thể nói thức duyên, sinh sáu xứ. Có thuyết nói, Kinh này chỉ đề cập ba sinh đạo thuộc dục giới; không nói đến hóa sinh của thượng giới.” Dẫn Trường 10, Đại duyên phương tiện kinh, tr. 61b9. Pāli, Mahānidānasuttam, D. ii. 63: viññāṇañca hi, ānanda, mātukucchismiṃ na okkamissatha, api nu kho nāmarūpaṃ mātukucchismiṃ samuccissathā ’’ ti? Ht. 大緣起經 Đại duyên khởi kinh; Cđ. 大因緣經 Đại nhân duyên kinh.

[8] Cđ.: “Nếu thức không gá vào chất đỏ trắng trong thai mẹ, thì chất này có biến dị thành kha-la-la không?” Vyākhyā đọc: vijñānaṃ ced ānanda mātuḥ kukṣiṃ nāvāmed api tu tan nāmarūpaṃ kalalatvāyābhisaṃmārchet, “nếu thức không nhập thai mẹ, danh sắc này có ngưng kết thành kha-la-la không?”

[9] Vyākhyā: ở đây, ở đời trước có nhân là vô minh và hành, quả của nó gồm 5 chi phần từ thức cho đến thọ; quả của đời sau là sanh và lão tử, nhân của nó gồm có 3 chi phần là: ái, thủ và hữu. Đây là nói: đời trước có 7 chi phần, đời sau gồm 5 chi phần.

[10] Tì-bà-sa 23, tr. 117c21: Trong dục giới và sắc giới, tự tánh (thể) của các chi duyên khởi là năm uẩn; trong vô sắc giới, bốn uẩn.

[11] pūrvakleśā daśā`vidyā saṃskārāḥ pūrvakarmaṇaḥ/ saṃdhiskandhās tu vijñānaṃ nāmarūpam ataḥ param//21/ prāk ṣaḍāyatanotpādāt tat pūrvaṃ trikasaṃgamāt/ sparśaḥ prāk sukhaduḥkhādikāraṇa-jñānaśaktitaḥ//22/ vittiḥ prāṅ maithunāt tṛṣṇā bhogamaithunarāgiṇaḥ/ sa bhaviṣyad-bhavaphalaṃ kurute karma tat bhavaḥ/ pratisaṃdhiḥ punar jātiḥ jarāmaraṇamāvidaḥ//23// Ht. 宿惑位無明 宿諸業名行 識 正結生蘊 六處前名色 從生眼等根 三和前六處 於三受因異 未了知名觸 在婬愛前受 貪資具婬愛 為得諸資具 遍馳求名取 有謂正能造 牽當有果業 結當有名生 至當受老死. Cđ. 宿惑位無明 及宿業名行 託生陰名識 此後稱名色 先於六入生 此先三和合 觸先樂苦捨 能分別因智 受先婬欲愛 求婬樂具愛 四取謂生具 為得故遍尋 當來有果報 能造業名有 更接有名生 老死乃至受.

[12] Phần vị: avasthā; trong tụng văn: daśā, viền áo, hay mép áo; nghĩa bóng chỉ một thời kỳ trong đời sống. Do dó, cả hai từ đều được dịch Hán là位 vị.

[13] Ht.: diễn dịch: “Phần vị phiền não từ quá khứ cho đến kết quả dị thục hiện tại, gọi chung là vô minh”. Quang ký: “Năm uẩn trong giai đoạn mà phiền não phát khởi nghiệp, trong những đời kể từ vô thủy, cho đến năm uẩn quả dị thục trong đời này, toàn bộ giai đoạn đó gọi chung là vô minh.”

[14] Phước, phi phước của dục giới, và bất động nghiệp của sắc và vô sắc giới. Pháp uẩn 11, tr. 506a18: hành = nghiệp; ba hành: phước hành, phi phước hành, bất động hành. Pāli, Saṅgīti, D. iii. 219: tayo saṅkhārā – puññābhisaṅkhāro, apuññābhisaṅkhāro, āneñjābhisaṅkhāro. Trong đây, Vyākhyā chỉ kê phước nghiệp và phi phước nghiệp (puṇya-apuṇya-karma).

[15] daśā, trong tụng 21a: pūrvakleśadaśā’vidyeti; xem cht. 641 trên.

[16] Tì-bà-sa 23, tr. 119a5: “Danh sắc là gì? Sau khi kết sanh đã khởi, và trước khi bốn sắc căn trong sáu xứ đầy đủ, trung gian đó gồm năm giai đoạn: kiết-lạt-lam, át-bộ-đàm, bế-thi, kiện-nam, bát-la-xa-khư - được gọi là giai đoạn danh sắc.”

[17] Vyākhyā: vì hai xứ là ý và thân đã xuất hiện trong sinh hữu, tức trong thức chi trước đó rồi.

[18] trikasaṅgama; xem cht. 648 dưới.

[19] trayānāṃ sannipātāt sparśaḥ, sự tập hợp của ba cái này là xúc. Phát biểu phổ quát về xúc, Hán (Tạp 3, tr. 18a10): 緣眼及色眼識生 生觸. 緣觸生受. Pāli (M.i.112): cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, “duyên đến mắt và các sắc, nhãn thức phát sinh; sự tụ hội của ba cái này là xúc; do duyên là xúc mà có thọ. Vì thọ hàm nghĩa “nhận biết” (cảm giác), do đó, trước khi thọ khởi, chỉ có cảm xúc mà chưa có cảm giác. Vyākhyā: Trường hợp hài nhi chưa có khả năng phân biệt rằng: “Cái này gây nên cảm thọ lạc, gây nên cảm thọ khổ và không khổ không lạc”; trạng thái này cũng gọi là xúc. Chẳng hạn như đứa bé khi chạm vào lửa chưa phân biệt được chính lửa gây nên khổ.

[20] Thọ, trong tụng văn: vitti: sự nhận biết. Vyākhyā: vittir vedanety arthaḥ: thọ là khả năng lý giải. Do động từ căn vid.

[21] bhoga-rāga, tham hưởng thụ ngũ dục . Ht. 貪資具 tham tư cụ, Cđ. 求樂具 cầu lạc cụ.

[22] Từ ái phát sinh chín pháp, Trường A-hàm 9, kinh Thập thượng, tr. 56b9: chín ái bản: nhân ái có cầu, nhân cầu có lợi ... dụng ... dục ... trước ... tật ... thủ ... hộ. Cf. Trường A-hàm 10, kinh Đại nhân phương tiện, tr. 60c18.Pāli, D.iii. 289 (Dasuttara): nava taṇhāmūlakā dhammā – taṇhaṃ paṭicca pariyesanā, pariyesanaṃ paṭicca lābho, ... vinicchayo, ... chandarāgo, ... ajjhosānaṃ, ...pariggaho, ... macchariyaṃ, ... ārakkho, ārakkhādhikaraṇaṃ daṇḍādānasatthādānakalahaviggaha-vivādatuvaṃtuvaṃpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti.

[23] Vyākhyā: paryeṣṭim āpanna iti eṣa ity etasya dhātor etad rūpaṃ, upādīyate viṣaya ātmabhāvo’nenety upādānaṃ caturvidhaḥ kleśaḥ, “biến tầm cầu” là hình thái của động từ căn ā-iṣ. Nó chấp thủ cảnh giới và tự thân, nên được gọi là thủ. Có bốn phiền não gọi là thủ.

[24] bhaviṣyadbhavaphala, Ht. 當有果 đương hữu quả; Cđ. 未來有報 vị lai hữu báo. Cđ: 能造業名有.

[25] Vyākhyā: bhavaḥ karmaparyāyaḥ, hữu, đồng nghĩa với nghiệp.

[26] pratisandhi, kết sanh thức; Ht. 結當有 kết đương hữu: nối kết đương lai hữu; Cđ. 託生 thác sanh.

[27] Vyākhyā: già-chết có (bao hàm) tính chất của bốn chi phần - khởi đầu là danh sắc. Vì muốn khiến cho đệ tử nhàm chán (kinh sợ) mà Thế Tôn dùng từ “già-chết” để thuyết minh bốn chi phần rằng: ‘Này Tỳ-kheo, sự sinh khởi của sắc chính là sự sinh khởi của già chết; cũng vậy, cho đến, cũng là sự sanh khởi của thức.’

[28] kṣaṇika, Vyākhyā: kṣaṇe bhavaḥ, tồn tại trong một sát-na, hay nó có tính sát-na. Quang ký: đồng một sát-na.

[29] Tì-bà-sa 23 tr. 118c07: Tôn giả Thiết-ma-đạt-đa (Kṣemadatta) nói, trong khoảnh khắc một sát-na đủ cả 12 chi... (ibid. tr. 118c15) Căn cứ 12 phần vị mà lập 12 chi. Mỗi một chi đủ cả năm uẩn, chứ không phải trong một sát-na đủ cả 12 chi.

[30] cetanā: tư, cố ý, động lực gây nghiệp; iv. 1b: cetanā tatkṛtaṃ ca tat, nghiệp là tư và sở tác bởi tư. Cđ: 作殺意 tác sát ý.

[31] vijñānasahabhuvaś catvāraḥ skandhā; Ht. ba uẩn; Quang ký: trong năm uẩn, trừ thức và thọ, vì được lập làm những chi riêng biệt. Trong sắc uẩn, trừ năm căn cùng với biểu và vô biểu của ngữ, vì chúng được liệt trong chi sáu xứ. Trong hành uẩn, trừ vô minh, tư, xúc, tham... vì chúng được kể trong các chi vô minh, hành, xúc, ái v.v.. Vyākhyā: danh sắc - sắc (rūpa) ở đây là biểu và vô biểu câu hữu với thức; danh (nāma), ba uẩn còn lại trừ thức. Cđ: 與識俱起四陰色 bốn uẩn cùng khởi với thức.

[32] Vyākhyā: nói là định vị (vyavasthāpita) vì sự hoạt động của chúng lệ thuộc danh sắc (tatpratibaddhavṛttitvād), hoăc y chỉ danh sắc (āśrayatvena). Ht. 住 trú = an trú; Quang ký: nói an trụ trong danh sắc, theo đó, ý an trụ trong danh; năm căn còn lại an trụ trong sắc.

[33] abhinipāta; Ht. 對餘和合 đối dư hòa hiệp; Cđ. 相對和合 tương đối hòa hiệp. Vyākhyā: nói là tiếp cận (abhinipāta), theo đó, căn hoạt động trong phạm vi đối tượng tương ứng.

[34] i.14c: vedanānubhavaḥ, thọ lãnh nạp tùy xúc.

[35] Tham (lobha), động lực của nghiệp (karma-samutthāna); sát sanh do động lực tham (lobhaja-prāṇātipāto... iv. 68d)

[36] paryavasthāna, Ht. triền; Cđ. 上心惑 thượng tâm hoặc. Có 10 triền, hoặc 8 triền: vô tàm, vô quý, tật, xan... (āhrīkyam anapatrāpyam īrṣyāmātsaryam... v.48).

[37] Vyākhyā: tatsamutthitaṃ iti tṛṣṇā-samutthitam, cetanā-samuttham ity apare, phát động bởi nó, tức ái đẳng khởi; các vị khác nói là tư đẳng khởi - động lực là tư.

[38] paripāka, Ht. 熟變 thục biến; Cđ. 變異 biến dị. Vyākhyā: sự tổn hại đối với công năng dẫn sinh quả, hoặc do quan hệ với sát-na đi trước.

[39] Vyākhyā: duyên khởi có tính chất phần vị (āvasthika: hệ thuộc giai đoạn), các chi liên tục nối kết nhau (sāmbandhika) trong ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại. Thuận chính lý 27, tr. 494b06: nhân quả đồng loại và dị loại hệ thuộc nhau phát sinh một cách liên tiếp không gián đoạn.

[40] Phẩm loại 6, tr.715c4; xem đoạn sau, cht. 678. Đoạn dẫn không có trong Cđ. Ht. gián tiếp dẫn: “ [duyên khởi có tính] sát-na và liên phược, như trong Phẩm loại túc luận, theo đó cả hai [tính chất này] phổ biến trong tất cả hữu vi.” Vyākhyā: do vì các pháp hữu vi lệ thuộc sự hoại diệt trong từng sát-na, do đó nói duyên khởi có tính sát-na. Do sự liên kết của nhân quả trong hai sát-na liên tục (hetuphalabhūtobhaya-kṣaṇa-sambandhāt), do đó nói duyên khởi có tính liên phược. Quang ký: liên tiếp nhau, nói là liên. Hệ thuộc lẫn nhau, nói là phược.

[41] āvasthika, phần vị duyên khởi.

[42] trayasambaddha; Ht.: “Nối tiếp nhau từ xa xôi vô thủy.”

[43] prākarṣika, có tính chất kéo dài từ lâu xa; Cđ.:多時 đa thời. Vyākhyā: chính tính chất phần vị (āvasthika) cũng là tính chất đa thời (prākarṣika: Ht. 遠續 viễn tục), vì hệ thuộc thời gian lâu xa (prakarṣa), hoặc do bởi hệ thuộc nhiều sát-na (anekakṣaṇikatvād), hoặc hệ thuộc nhiều đời (anekajanmikatvād).

[44] āvasthikaḥ kileṣṭo’yaṃ prādhānyāt tv aṅgakīrtanam//25ab// Ht. 傳許約位說 從勝立支名. Cđ. 此今約位說 由勝說為分.

[45] Thuận chánh lý 27 (tr.494b14): Các luận sư A-tì-đạt-ma 對法諸師 đều nói Phật y phần vị mà nói duyên khởi; Thế Thân không tin như vậy nên nói là “truyền thuyết” (kila).

[46] Như vô minh thuộc hành uẩn; vậy thể của chi này duy chỉ là hành uẩn?

[47] Ht. diễn dịch thêm: “Trong phần vị nào mà vô minh trổi vượt, cả năm uẩn trong phần vị đó được gọi chung là vô minh.”

[48] Ht. diễn thêm: “Cho nên, thể tuy là chung mà tên gọi thì riêng.” Cđ. Thuận chính lý 27 tr. 494b19.

[49] Phẩm loại 6, tr. 715c04: 緣起法云何。謂有為法.

[50] āvasthikaḥ, kṣaṇikaḥ, prākarṣikaḥ, sāmbandhikaḥ, sattvākhyaḥ, asattvākhya. Vyākhyā: A-tì-đạt-ma y pháp tướng mà nói, là phát xuất từ yếu tính bản hữu của pháp (lakṣaṇapradhānatvāt). Pháp uẩn nói duyên khởi thuộc cả hữu tình và phi hữu tình, vì nó bao hàm tất cả hữu vi (sarvasaṃskṛtagrahaṇāt). Bởi vì duyên khởi liên hệ nguyên lý nhân quả của tất cả hữu vi (sarvasaṃskṛtahetutvayogāt).

[51] purvāparāntamadhyeṣu saṃmohavinivṛttyo//25cd// Ht. 於前後中際 為遣他愚惑. Cđ. 於前後中際 為除他無明.

[52] trikāṇḍaḥ, ba tiết, đốt; ba phân đoạn. Vyākhyā: kāṇḍa it bhāgaḥ.

[53] Ht. diễn dịch: “Sự sai biệt của ba tế chỉ hệ thuộc nơi hữu tình.”

[54] Pāli, M.i.8 (Sabbāsavasutta), S.ii. 26 (Paccayasuttam): so vata pubbantaṃ vā paṭidhāvissati – ‘ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhānaṃ, nanu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kiṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kiṃ hutvā kiṃ ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhāna ’ nti. Hán, Tạp 12, tr. 84b27: ... 求前際言我過去世若有若無?我過去 世何 等類? 我過去世何如?

[55] Vyākhyā: “Ta là cái gì, là ai? Thiên thần, hay con người?” (ko nv aham abhūvam iti devo manuṣya iti vā). 

[56] Vyākhyā: “Ta đã tồn tại với phẩm loại gì? Với phương tiện gì? (kena prākareṇa kayā yuktyā).

[57] Pāli, op.cit.: aparantaṃ vā upadhāvissati ‘ bhavissāmi nu kho ahaṃ anāgatamaddhānaṃ, nanu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṃ, kiṃ nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṃ, kiṃ hutvā kiṃ bhavissāmi nu kho ahaṃ anāgatamaddhāna ’ nti. Hán, op.cit.: ... 求後際我於當來世為有為無?云何類?何如?

[58] Pāli, op.cit.: etarahi vā paccuppannaṃ addhānaṃ ajjhattaṃ kathaṃkathī bhavissati – ‘ ahaṃ nu khosmi, no nu khosmi, kiṃ nu khosmi, kathaṃ nu khosmi, ayaṃ nu kho satto kuto āgato, so kuhiṃ gamissatī ’ ti. Hán, op.cit.: 內... 猶豫此是何等?云何有此為前? 誰終 當云何之?此眾生從何來?於此沒當何之?

[59] kiṃ svid idam, Ht. 何等是我 “Ta là cái gì?” Vyākhyā: ātmabhavadravyam anveṣate, tra vấn vật thể tự thân.

[60] ke santaḥ, Vyākhyā: ke vayam idānīṃ vidyamānaḥ, chúng ta đang là những ai/ những cái gì”? Ht. 我誰所有 ngã thùy sở hữu? Cđ. 今何我 kim hà ngã?

[61] ke bhaviṣyāmaḥ. Ht. 我當有誰 ngã đương hữu thùy? Cđ. 當來何我 đương lai hà ngã?

[62] pratītyasamutpāda, pháp duyên khởi, thuộc lý pháp, nguyên lý hay quy luật chi phối tất cả pháp; pratīyasamutpanna, phân từ quá khứ, chỉ bất cứ cái gì, thuộc hiện tượng giới, đã phát sinh do bởi quan hệ các duyên. Ht. 緣已生法 duyên dĩ sinh pháp, Cđ. 緣生所生法 duyên sinh sở sinh pháp.

[63] Pāli, op.cit.: yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ayañca paṭiccasamuppādo, ime ca paṭiccasamuppannā dhammā yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, so vata pubbantaṃ vā paṭidhāvissati – ‘ ahosiṃ nu kho ahaṃ... .’ Hán, op.cit. tr. 84b26: 多聞聖弟於此因緣法 緣生法 正知善見不求前際言我過去世若有若無 ...

huongtichbooks.




Lượt xem: 2229 



XEM THÊM CÙNG THỂ LOẠI


- TÙY MIÊN - DANH NGHĨA & PHẨM LOẠI
- NGHIỆP LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA
- NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI (t.t)
- TỔNG LUẬN VỀ NGHIỆP
- TỰA TRUNG LUẬN
- LUÂN HỒI NGHIỆP BÁO
- NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT CỦA BỒ TÁT HÀNH
- TỔNG LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ
- DẪN VÀO DUY THỨC HỌC
- THẮNG MAN GIẢNG LUẬN
- DẪN VÀO TÂM KINH BÁT-NHÃ
- BA CỐT TỦY CỦA ĐẠO LỘ
- BỒ ĐỀ ĐẠO ĐĂNG LUẬN
- THỨ TỰ TU TẬP
- TÁM THI KỆ LUYỆN TÂM
- A-TỲ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ - II - Phân Biệt Thế gian. TỔNG THUYẾT VŨ TRỤ LUẬN
- BỒ ĐỀ ĐẠO THỨ ĐỆ NHIẾP TỤNG

TIN SÁCH

Ghi danh để nhận thông báo sách mới qua email.

Ghi danh nhận tin khi có sách mới

LIÊN LẠC

ĐỊA CHỈ

Thư quán Hương Tích
308/12 Nguyễn Thượng Hiền
Quận Phú Nhuận, TP HCM

Điện thoại: 08 3550 0339
Email: huongtichbooks@gmail.com

Kết nối