POEMS - TUE SY


Tuệ Sỹ


POEMS - TUE SYI. TIẾU KHÚC PHẬT ĐẢN

Sông Hằng một dải trôi mau;

Vận đời đôi ngã bạc đầu Vương gia.

Tuyết sơn phất ngọn trăng già,

Bóng Người thăm thẳm vượt qua chín tầng.

Cho hay Bồ tát hậu thân,

Chày kình chưa chuyển tiếng vần đã xa.

Sườn non một bóng Đạo già

Trầm tư năm tháng bên bờ tử sinh.

Nhìn sao mà ngỏ sự tình:

Ai người Đại Giác cho minh quy y?

Năm chầy đá ngủ lòng khe;

Lưng trời cánh hạc đi về hoàng hôn.

Trăng gầy nửa mảnh soi thềm,

U ơ tiếng trẻ, êm đềm Vương cung.

Sao trời thưa nhặt mông lung;

Mấy ai thấu rõ cho cùng nghiệp duyên.

Khói mơ quấn quýt hương nguyền,

Hợp tan là lẽ ưu phiền đấy thôi.

Vườn Hồng khóa nẻo phỉnh phờ,

Cùng trong cõi Mộng chia bờ khổ đau.

Thời gian vỗ cánh ngang đầu;

Sinh, già, bịnh, chết, tránh đâu vận cùng.

Khổ đau là khối tình chung,

Ai nâng cõi Thế qua bùn tử sinh?

T.S.

[Mùa Phật Đản 2549]

A LITTLE SONG OF VESAK

The Ganges River keeps flowing

Between the destiny of life, whitening the hair of the Royal Highness*

The snowed mountain paints the old moon

The person's shadow has passed deep the ninth heaven

Just another manifestation of the Boddhisvatta

Reciting the Sutra has yet to transform, its essence has echoed

A young mountain, an old Wise

Contemplating with time on the shore of Birth and Death

Looking deep at the star, one wondered

Which Awakened One let us to take refuge

Time still pass, rocks still sleep, heart and mind still sync

Cross the sky, the stork comes and goes as beauty as the sunset.

The half slim moon still shine its course

Singing to the young, soothe the Royal palace

How come the sun still radiate

Who to fully understand the Karma and Interbeing?

The incense bathe with prayers

Uniting and dissolving is the essence of suffering.

The blooming garden protects its beauty

In the realm of dream divides the shore of its unwholesomeness

The time is just passing over our heads

Birth, old age, sickness and death is just a continuance

Suffering is just a common displacement

Who is to lift human realm over the muddle of life and death?
.

[Vesak B.E. 2549]

* There was a prophecy that the prince would leave home for a holy life and attain the supreme enlightenment, otherwise he would be a great emperor. Worry about the prophecy was whitening the hair of the father-king.

Translated by Phe Bach

II. Bình Minh

Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu

Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh

Tôi là cỏ trôi theo dòng thiên cổ

Nghe lời ru nhớ mãi buổi bình minh.

Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ

Uống sương khuya tìm sinh lộ viễn trình

Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ

Tôi yêu ai, trời rực ánh bình minh.

Đôi cò trắng yêu nhau còn bỡ ngỡ

Sao mặt trời thù ghét tóc nàng xinh?

Tôi lên núi tìm nỗi buồn đâu đó

Sao tuổi thơ không khóc buổi bình minh?

Dawn

The sound of a crying baby resounds words of eternity

In primeval times rivers of blood bathe the green fields

I am the grass swept along the current of antiquity

Listening to the lullaby that reminds me always of dawn.

At the unbegining my soul arises from the depth of the grave

Gulping down the wee hours dew in search of a long-journeyed life path

When the aurora sun places its kiss onto the budding petals

No matter whomever I love, dawn breaks out blazingly.

A pair of white herons in love stay unfledged

Why should the sun loathe her graceful hair?

I ascend the mountain in search of some vague melancholy

Why doesn't youth shed tears for dawn?
.

Translated by Phe Bach

Edited by Professor Thai V. Nguyen

III. Một Thoáng Chiêm Bao

Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn

Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao

Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận

Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao

T.S.

[Rừng Vạn Giã 1976]

.

Fleeting Glimpse of a Dream

Your deep innocent eyes on that day of gala

And your graceful smiling lips dim the dazzling rays of the sun

Incarnating the virginal heron in the midst of the endless verdant prairie

In the fleeting glimpse of a dream, I’m in love with thee.
.

[Vạn Giã Forest, 1976]

Translated by Bạch X. Phẻ

Edited by Prof. Nguyễn Văn Thái

NHỮNG ĐIỆP KHÚC CHO DƯƠNG CẦM

I. Trên dấu thăng

âm đàn trĩu nặng

Khóe môi in dấu hận nghìn trùng

Âm đàn đó

chìm sâu ảo vọng

Nhịp tim ngừng trống trải thời gian.

Thời gian ngưng

mặt trời vết bỏng

vẫn thời gian

sợi khói buông chùng

Anh đi mãi

thềm rêu vơi mỏng

Bởi nắng mòn

cỏ dại ven sông.

.

LES REFRAINS POUR PIANO

Au son du dièse, le piano ploie

Toujours ressassée, l’amertume

S’imprime au coin des lèvres

L’illusion fait tomber

Le cœur s’arrête

Dans la vacuité du temps

Le temps s’arrête

Sous la brûlure du soleil

Comme un fil de fumée qui s’étiole

Sur le balcon moussu,

La lumière se fane

Herbe folle, au bord de la rivière.
.

II. Ve mùa hạ chợt về thành phố

Khóm cây già che nắng hoang lương

Đám bụi trắng cuốn lên đầu ngõ

Trên phím đàn lặng lẽ tàn hương

Tiếng ve dội lăn tăn nốt nhỏ

Khóc mùa hè mà khô cả đại dương.

.

Soudain l’été a surgi

Les cigales chantent sur la ville

Un bouquet de vieux arbres

Protège du soleil torride

La poussière blanche s’enroule au bout de la ruelle

Le «silence» est parfumé

Le chant des cigales ondule légèrement

Je pleure l’été qui assèche l’océan.
.

III. Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói

Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao

Từ nguyên sơ đã một lời không nói

Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào

Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi

Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao.

.

À bout de chagrin, je revis

C’est toujours l’Amour de mes songes

Innommable dès l’Origine

Comme l’éclat d’une fleur de pécher dans l’océan

Mes ailes sont lasses des cacophonies

Je tends les bras vers les étoiles.
.

IV. Giăng mộ cổ

mưa chiều hoen ngấn lệ

Bóng điêu tàn

huyền sử đứng trơ vơ

Sương thấm lạnh

làn vai hờn nguyệt quế

Ôm tượng đài

yêu suốt cõi hoang sơ.

.

La bruine tombe

Sur le vieux tombeau

Ce soir la pluie est saturée de larmes

La ruine des légendes se dresse solitaire

Les épaules glacées

Je sens l’amertume du Laurier

Embrassant le Monument

J’adore le vide des Origines.
.

* Traduction en Français : Dominique de Miscault




Lượt xem: 1485 



XEM THÊM CÙNG THỂ LOẠI


- DEVELOPMENT OF THE BODHISATTVA DOCTRINE AND ITS RELATION TO THE PĀLI NIKĀYAS
- INTRODUCTION TO THE SELECTIONS FROM MAHĀYĀNA BUDDHISM
- Meditation in Action
- THE CURRENT THINKING ABOUT BUDDHIST EDUCATION PLANS FOR VIETNAMESE YOUTH
- Mindful Leadership – Another Perspective And Approach To Current World Crisis By Examining The Vietnamese Buddhist Monks In America’s Leadership Practices And Their Contributions To Society
- Trần Nhân Tông’s Position in the History of Vietnamese Literature
- THE PATH TO LIBERATION FOR THE BUDDHIST LAITY
- A WORLDLY LIFE WITH JOY IN THE WAY
- Emperor Nhân Tông and the Making of Peace in the Postwar Period
- Emperor Nhân Tông and the War of Defense in 1288
- Emperor Trần Nhân Tông and the War of Defense in 1285
- THE EMPEROR NHÂN TÔNG AND THE TRÚC LÂM SCHOOL
- THE EMPEROR TRẦN NHÂN TÔNG’S MONASTIC LIFE
- UN LIVRE DES MOINES BOUDDHISTES DANS LE VIETNAM D’AUTREFOIS
- POEMES de HOANG CAM
- HISTOIRE SOMMAIRE DU BOUDDHISME PENDANT LE PREMIER MILLÉNAIRE DANS L’ESPACE VIỆT MÉRIDIONAL _suite
- HISTOIRE SOMMAIRE DU BOUDDHISME PENDANT LE PREMIER MILLÉNAIRE DANS L’ESPACE VIỆT MÉRIDIONAL
- BUDDHISM AND THE YOUTH
- THE MOVEMENTS OF VIETNAMESE BUDDHISM IN THE END OF THE TANG DYNASTY
- FAR AWAY FOR LIFE
- REDUCTION TO THE NOTHINGNESS
- Buddhism Today, East and West
- BUDDHIST FOUNDATION OF ECONOMICS
- THE BUDDHA-LAND AS PRESENTED IN THE VIMALAKIRTINIRDESA-SUTRA
- Buddhist Contribution to Good Governance and Development in Vietnam

TIN SÁCH

Ghi danh để nhận thông báo sách mới qua email.

Ghi danh nhận tin khi có sách mới

LIÊN LẠC

ĐỊA CHỈ

Thư quán Hương Tích
308/12 Nguyễn Thượng Hiền
Quận Phú Nhuận, TP HCM

Điện thoại: 08 3550 0339
Email: huongtichbooks@gmail.com

Kết nối