THIỀN TRONG HÀNH ĐỘNG - Phân Bón Kinh Nghiệm và Cánh Đồng Giác Ngộ


Chögyam Trungpa Rinpoche. Dịch Việt: Đạo Sinh


THIỀN TRONG HÀNH ĐỘNG - Phân Bón Kinh Nghiệm và Cánh Đồng Giác Ngộ

Phân Bón Kinh Nghiệm và Cánh Đồng Giác Ngộ

Làm thế nào để sinh khởi bodhi, trạng thái giác ngộ của tâm? Luôn có một điều bất ổn lớn lao khi ta không biết phải bắt đầu như thế nào; và hình như ta đang bị vướng mắc không ngừng trong giòng chảy của cuộc đời. Một áp lực thường xuyên từ các ý tưởng, các ý tưởng miên man, cũng như sự mơ hồ và tất cả các loại ham muốn, vẫn liên tục xảy ra. Nếu ta nói theo cung cách của một gã đàn ông ngoài đường phố thì hình như y không còn cơ hội vì không bao giờ thật sự có thể quay nhìn lại chính mình. Trừ phi y đọc được một cuốn sách nào đó viết về chủ đề này rồi muốn bước vào một lối sống tu tập; nhưng dù có làm được như thế thì hình như y vẫn không có cơ hội, không có cách nào để bắt đầu. Người ta thường có khuynh hướng phân biệt sát sao đời sống tinh thần với cuộc sống hàng ngày. Họ sẽ gọi người này là “trần tục”, người kia là “tâm linh”, và họ thường có một sự phân chia thật nhanh và cứng nhắc giữa hai người. Vì thế nếu ta nói chuyện về thiền, về tỉnh giác và về sự hiểu biết thì một người bình thường, vốn chưa hề nghe đến những điều như thế, hiển nhiên sẽ chẳng có một ấn tượng nào cả, và có lẽ người đó sẽ không có đủ thích thú để chịu khó lắng nghe. Và vì sự phân chia như thế, người ta thấy rằng không thể nào bước được bước tiếp theo; và họ không bao giờ có thể thật sự kết nối với chính mình hay với người khác theo cách đặc biệt này. Giáo pháp, các huấn thị, các kinh văn huyền mật, có thể rất thâm áo, nhưng dù sao đi nữa họ cũng không bao giờ có thể thâm nhập được. Vì thế họ đụng phải bế tắc. Một người, hoặc “có khuynh hướng tâm linh” hoặc là “một con người trần tục”; và hình như chẳng còn cách nào để bắt cầu qua khoảng hở này. Tôi nghĩ đây là chướng ngại lớn khiến bodhi không sinh khởi. Cũng có trường hợp những người đã đi trên con đường này lại đâm ra nghi ngờ và muốn buông bỏ. Có lẽ họ nghĩ rằng họ sẽ hạnh phúc hơn nếu họ từ bỏ con đường và chỉ sống như một người chủ trương bất khả tri.

Vì thế có cái gì đó không hoàn toàn trôi chảy, không nối kết được cái này với cái kia; và đây là điều ngăn không cho bodhi của chúng ta sinh khởi. Vì thế chúng ta phải tìm hiểu vấn đề này. Chúng ta phải cung cấp những manh mối nào đó cho những người sống ở phố, một cách tìm kiếm nào đó, một khái niệm nào đó mà họ có thể hiểu, một khái niệm có liên quan đến đời sống của họ và sẽ là một phần của cuộc sống họ. Dĩ nhiên không có mật ngữ hay phép lạ nào có thể đột nhiên thay đổi tâm trí họ. Ta ước ao chỉ nói vài câu là có thể làm cho người khác ngộ ra; thế nhưng ngay cả những bậc thầy vĩ đại như Chúa hay Phật cũng không thể làm được điều kỳ diệu này. Các ngài phải luôn luôn tìm kiếm cơ hội thích hợp và tạo ra hoàn cảnh thích hợp. Nếu ta khảo sát tính tình của một người và nghiên cứu các chướng ngại, các khó khăn thì càng ngày ta càng đi xa hơn mà thôi, bởi vì ta đang cố tháo một nút thắt đã có sẵn ở đó, và phải mất hàng đời hàng kiếp mới giải được tình trạng hỗn độn rối ren này. Vì thế ta phải tiếp cận từ một góc độ khác và khởi đầu bằng việc chỉ chấp nhận tính tình của người đó cho dù cái tâm người đó rất trần tục đi nữa. Và rồi chúng ta chọn một lĩnh vực hoạt động hay tinh thần nào đó của họ và dùng nó như một nấc thang, một cái neo, một cỗ xe, để ngay cả con người sống ở phố đó cũng có thể sinh khởi bodhi. Hoàn toàn đúng khi nói Đức Phật là một con người giác ngộ, và Ngài đang tiếp tục sống như thể tính và như Giáo pháp của một vị Phật – quy luật phổ quát nằm trong tất cả mọi cái. Và cũng hoàn toàn đúng khi nói Tăng-già là cộng đồng cao nhất và rộng mở nhất có thể tác động đến mọi cái. Thế nhưng phần lớn con người vẫn không bao giờ có thể nghĩ đến việc an trú trong đó. Vì thế, dù gì đi nữa ta vẫn phải tìm ra cách tiếp cận đúng đắn. Và ta luôn tìm thấy rằng mỗi người đều có trong bản thân mình một tính chất đặc biệt. Một người có thể bị xem như chẳng có chút thông minh, chẳng có chút tính người nào cả, nhưng thật ra mỗi người đều có tính chất đặc biệt riêng của mình. Đó có thể là một loại bạo lực hay lười biếng khủng khiếp, nhưng ta phải chấp nhận tính chất đó và không nhất thiết phải xem đó là lỗi lầm hay chướng ngại. Bởi vì chính bodhi có ở trong người đó; nó là hạt giống, hay đúng hơn là trọn vẹn tiềm thể tạo ra sự sinh khởi – người đó đã ngập tràn bodhi. Như một bản kinh đã nói, “Vì Phật tính bàng bạc khắp mọi hiện hữu nên không có gì không thể giác ngộ.”

Cuốn kinh này được biên soạn sau khi đức Phật nhập niết-bàn. Trong thế giới chư thiên và loài người tất cả đều bắt đầu hoài nghi không biết Phật pháp có trụ thế được không, vì hình như khi người thầy tuyệt vời đã ra đi thì tất cả còn lại chỉ là một nhóm nhà sư khất thực; và hình như họ không làm được nhiều việc lắm, hoặc họ không có khả năng làm được như thế. Vì thế một vị đệ tử mới than khóc nói rằng giờ đây thế giới sinh tử luân hồi sẽ quay vòng mãi mãi với những đợt sóng tham lam, sân hận, si mê; chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội được nghe lời dạy và giáo huấn của đức Phật, chúng ta lại ngập chìm vào bóng đêm. Vậy thì chúng ta sẽ làm gì? Và khi than thở như vậy thì câu trả lời đã đến với ông: Đức Phật không bao giờ chết, lời dạy của Ngài luôn luôn hiện hữu và việc sinh-tử của Ngài chỉ là một quan niệm, một ý tưởng. Thật vậy, không ai bị loại trừ và tất cả chúng sinh – bất cứ chúng sinh nào có ý thức, bất cứ ai có tâm hay căn bản tâm – tất cả đều có thể hành đạo bồ-tát, bất cứ ai cũng có thể trở thành con người giác ngộ.

Trong ý nghĩa này, không có gì gọi là “mật giáo”, hay một giáo pháp chỉ dành cho một ít người. Về giáo pháp, nó luôn luôn khai mở; thật vậy, khai mở, bình dị và đơn giản đến độ nó được chứa đựng trong tính tình của con người đó. Anh ta có thể quen thói say sưa, quen thói bạo hành, nhưng tính chất đó chính là tiềm năng của anh ta. Và để giúp bodhi của anh ta sinh khởi, trước hết ta phải kính trọng tính chất của người đó và mở rộng trái tim của ta trước sự bạo hành của anh ta. Rồi chúng ta phải đi vào anh ta trọn vẹn và tôn trọng anh ta để khía cạnh sinh động, mạnh mẽ của tính bạo hành có thể được vận dụng để phục vụ làm khía cạnh năng lượng của đời sống tâm linh. Bằng cách này bước đầu tiên đã được thực hiện và gạch nối đầu tiên đã được lập thành. Có thể người đó cảm thấy rất tồi tệ, rằng anh ta đang làm cái gì đó xấu xa, hoặc cái gì đó không đúng đắn lắm. Anh ta có thể cảm thấy mình có những khó khăn lớn, có một vấn đề cần giải quyết. Nhưng anh ta không giải quyết được, và có lẽ trong khi kiếm tìm một giải pháp anh ta chỉ thay thế những hoạt động đã từ bỏ bằng những hoạt động khác. Vì thế chính nhờ những điều đơn giản, trực tiếp và tầm thường trong tâm và sự cư xử của anh ta mà anh ta đạt được sự chứng đắc trạng thái tâm giác ngộ của mình.

Dĩ nhiên ta không thể áp dụng điều này theo cách chung chung. Chẳng ích gì khi phổ quát hóa hay cố gắng giải thích các khái niệm triết học cho một người ở trong tình trạng như anh ta. Ta phải tìm hiểu thời khắc đặc biệt của người đó, chính cái thời khắc của cái bây giờ. Và luôn luôn có một loại tia sáng, một loại khe hở. Tính khí của anh ta không chỉ là một điều. Có cách cư xử năng động, rồi lại thụ động, rồi năng động, liên tục thay đổi. Thời khắc đầu tiên tạo ra và sinh khởi thời khắc kế tiếp. Vì thế luôn luôn có một khoảng hở giữa hai thời khắc, và ta có thể lấy đó làm điểm xuất phát. Có lẽ ta phải bắt đầu với dạng lý thuyết nào đó, bởi vì nếu không tôn trọng luân hồi sinh tử, thế giới của sự mê mờ, thì ta không thể khám phá trạng thái giác ngộ của tâm, hay niết-bàn. Bởi vì luân hồi sinh tử là lối vào, là cỗ xe dẫn đến niết-bàn. Vì thế ta nên nói rằng tính chất bạo hành là tốt. Đó là một điều tuyệt vời, là cái tích cực. Và rồi anh ta bắt đầu ý thức được điều này, cho dù lúc đầu có thể bối rối và tự hỏi có gì tốt trong đó. Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa nếu vượt qua được phần quyến rũ của nó thì ít ra anh ta cũng bắt đầu cảm thấy tốt đẹp; và bắt đầu ý thức mình không phải là một “tội nhân” mà là có cái gì đó rất tích cực trong con người mình. Điều này giống hệt như khi ta tập thiền. Ta có thể bắt đầu phát giác những điểm yếu của chính mình, có thể dưới một dạng rất nhẹ nhàng, chẳng hạn như ta đang bị tán tâm hay đang trù tính chuyện tương lai, và rồi một số điều nào đó bắt đầu xuất hiện, và rồi dường như ta đang ngồi để suy tính về những điều này hơn là chăm chú hành thiền. Nhờ thế ta đã khám phá ra một số điều nào đó, và điều này rất có giá trị, nó cung cấp cho ta một cơ hội tuyệt vời.

Kinh sách thường đề cập đến việc nếu không có các lý thuyết, không có các quan niệm thì ta chẳng khởi đầu được gì cả. Vì thế hãy khởi đầu bằng các quan niệm và rồi xây dựng lý thuyết. Và khi ta đã dùng cạn lý thuyết thì nó sẽ dần dần mở đường đến trí huệ, đến sự hiểu biết bằng trực giác; và sự hiểu biết đó cuối cùng sẽ nối kết với thực tại. Vì thế, để bắt đầu, ta nên thật thoải mái, đừng đối kháng điều gì cả. Ví dụ, nếu muốn giúp đỡ người khác thì ta sẽ làm theo hai cách: một là ta giúp vì ta muốn họ trở nên khác đi, ta muốn họ giống như khuôn mẫu mà ta đã định sẵn, ta muốn họ đi theo con đường của ta. Đó là lòng từ bi kèm theo tự ngã, từ bi có mục đích, từ bi với những kết quả làm lợi cho ta – và đó không hẳn là lòng từ bi chân thật. Cách giúp đỡ người khác như thế có thể là rất tốt; tuy nhiên cái kiểu muốn cứu vớt thế gian và mang lại hòa bình đầy cảm tính như thế thì chưa đủ; phải nhiều hơn thế nữa, phải sâu hơn thế nữa. Vì thế trước tiên ta phải bắt đầu bằng việc tôn trọng các khái niệm và rồi hãy xây dựng từ đó. Mặc dù trong giáo lý nhà Phật các khái niệm thường được xem như một chướng ngại, nhưng chướng ngại không có nghĩa là ngăn ngại tất cả mọi cái. Nó là một chướng ngại, nhưng nó cũng là một cỗ xe – nó là tất cả. Vì thế ta phải đặc biệt chú ý đến các khái niệm.

Kinh nói rằng (tôi nghĩ là kinh Lankavatara Sutra) những nông phu vụng về vứt bỏ rác thải và mua phân bón từ những nông phu khác, nhưng những người khéo léo lại đi gom rác thải cho dù hôi hám bẩn thỉu, và đến khi dùng được thì họ lại rải lên đất để làm phân bón cho các vụ mùa. Đó là cách làm khéo léo. Đức Phật dạy rằng cũng theo cách như thế những người vụng về sẽ phân chia các thứ thành thanh tịnh và bất tịnh, và sẽ cố vứt bỏ luân hồi sinh tử mà tìm kiếm niết-bàn, nhưng những ai là bồ-tát thiện xảo thì sẽ không vứt bỏ tham, sân, si, vân vân, mà trước tiên là gom chúng lại. Điều này có nghĩa trước tiên ta nên nhận ra và thừa nhận chúng, tìm hiểu chúng và chứng ngộ chúng. Vì thế những vị bồ-tát thiện xảo sẽ thừa nhận và chấp nhận mọi thứ tiêu cực này. Và lần này họ thật sự biết rằng họ có tất cả những thứ khủng khiếp này ở trong họ, và mặc dù thật khó khăn và mất vệ sinh để làm thế, nhưng đó là cách duy nhất để bắt đầu. Và rồi họ sẽ rải chúng lên cánh đồng giác ngộ. Sau khi tìm hiểu tất cả các khái niệm và các điều tiêu cực này, họ sẽ không lưu giữ chúng nữa vào thời điểm thích hợp mà sẽ rải chúng và dùng chúng làm phân bón. Vì thế, từ những thứ bất tịnh này sẽ nảy sinh hạt giống chứng ngộ. Đây là cách ta tạo ra sự sinh khởi. Và chính ý tưởng cho rằng các khái niệm thì xấu, hay những điều như thế này như thế kia là xấu, sẽ chia cắt cái toàn thể, với kết quả là ta không còn lại gì để hành xử. Trong trường hợp đó, hoặc là ta chắc hẳn phải rất hoàn hảo hoặc phải chiến đấu chống lại chúng và cố loại trừ tất cả. Nhưng khi ta có thái độ thù hằn như thế và cố đàn áp chúng thì mỗi lần ta loại trừ được một thứ, một thứ khác lại vọt ra thế chỗ; và khi ta tấn công cái mới vọt ra này thì một cái khác lại vọt lên từ một nơi nào đó. Đây là trò đùa thường xuyên xảy ra của tự ngã để khi ta cố gắng tháo gỡ một nơi nào đó của cái nút thắt thì ta lại kéo căng sợi dây và làm cho nó thắt chặc thêm ở nơi khác; và ta luôn dính mắc trong đó. Vì thế, vấn đề là đừng có đánh nhau nữa, đừng cố gắng loại trừ điều xấu và chỉ đạt đến điều tốt, mà hãy tôn trọng và thừa nhận chúng. Vì thế lý thuyết và các khái niệm thì rất tốt, như một loại phân bón tuyệt vời. Qua hàng ngàn hàng vạn kiếp sống, ta đã gom góp nhiều rác rưởi đến độ giờ đây ta đã có một lượng lớn phân bón tuyệt vời. Trong đó có đủ các thứ, vì thế ta nên sử dụng chúng, và thật xấu hổ nếu ta vứt chúng đi. Bởi vì nếu ta vứt đi thì trọn vẹn đời sống trước đó cho đến ngày hôm nay, có lẽ là hai mươi, ba mươi hay bốn mươi năm sẽ bị uổng phí. Không những thế mà các đời trước, đời này và những đời sau nữa sẽ bị uổng phí, và ta sẽ có một cảm giác thất bại. Tất cả sự chiến đấu đó và tất cả sự gom góp đó sẽ bị uổng phí và ta cứ phải bắt đầu lại từ đầu mãi. Như vậy sẽ có một cảm giác tuyệt vọng lớn lao, và đó sẽ là một thất bại nhiều hơn là sự thủ đắc bất cứ điều gì. Vì thế ta phải tôn trọng cái kiểu liên tục đó. Có thể ta đã tách ra khỏi nguồn gốc và tất cả mọi thứ có lẽ đã xảy ra. Đó không thể là những điều tốt đẹp được. Chúng tiêu cực và ít được mong muốn. Ở giai đoạn này có những cái tốt và cái xấu; tuy nhiên sự gom góp này chứa đựng những cái tốt được ngụy trang như là xấu và những cái xấu được ngụy trang như là tốt.

Ta phải tôn trọng cái kiểu tiếp diễn của tất cả các đời sống trong quá khứ và phần đầu cuộc sống hiện tại cho đến ngày hôm nay của ta. Và có một kiểu mẫu tuyệt vời ở trong đó. Đã có một giòng chảy rất mạnh nơi nhiều giòng suối tụ lại trong một thung lũng. Con sông này rất tốt vì chứa đựng những giòng suối mạnh mẽ đang chảy trong đó; vì thế, thay vì cố chặn đứng giòng chảy thì ta nên hòa nhập và sử dụng nó. Điều này không có nghĩa ta nên tiếp tục gom góp những thứ này mãi. Bất kỳ ai làm thế đều sẽ thiếu tỉnh giác và trí huệ; người ấy có lẽ đã không hiểu được ý tưởng gom góp phân bón. Người ấy có thể gom lại rác rưởi và nhìn nhận giá trị của chúng. Và khi nhận ra được giá trị của chúng, có lẽ người đó đã đạt đến một điểm nào đó và hiểu rằng phân bón đã sẵn sàng để dùng.

Có một câu chuyện trong giáo lý Mật tông (Tantra) về hai người bạn thân. Cả hai đều muốn đi tìm chân lý. Họ đến gặp một vị thầy, và vị thầy nói: “Đừng buông bỏ bất cứ điều gì. Hãy chấp nhận tất cả. Và một khi đã chấp nhận rồi thì hãy sử dụng chúng đúng cách.” Và người thứ nhất nghĩ: “À, điều này thật tuyệt vời. Ta có thể tiếp tục làm như ta đang làm.” Thế là anh ta xây hàng trăm nhà thổ, hàng trăm tiệm bán thịt, và hàng trăm chỗ ăn nhậu, những việc phong tục Ấn xem như chỉ dành cho giới hạ lưu. Anh ta bắt đầu điều hành công việc buôn bán lớn này và nghĩ rằng đó là điều vị thầy muốn anh ta làm. Nhưng người bạn kia lại không nghĩ làm như thế là đúng nên đã tập trung vào chính bản thân mình; và nhờ quán sát như thế, người này đã đi đến kết luận rằng mình có đầy đủ các thứ và không phải tích góp thêm nữa. Anh ta không phải thực hành bất cứ thiền định nào thêm nữa, mà bằng vào việc thừa nhận vốn liếng đã có được, anh ta tựu thành giác ngộ hay ít ra cũng là một giai đoạn nào đó của sự chứng đắc, một loại satori. Thế rồi một hôm hai người gặp lại nhau. Họ nói chuyện và so sánh kinh nghiệm của nhau. Người thứ nhất chẳng giác ngộ chút nào cả; anh ta vẫn đang chiến đấu, vẫn gom góp và làm những việc như thế. Thật ra anh ta đã rơi vào một cái bẫy tệ hại hơn và đã không bắt đầu được ngay cả việc quán sát thân tâm. Thế nhưng cả hai đều đoan chắc mình đúng; vì thế họ quyết định đi hỏi vị thầy. Và vị thầy nói với người đang điều hành việc mua bán: “Ta sợ rằng cách làm của con không đúng.” Và anh ta tuyệt vọng đến độ đã rút gươm giết chết người thầy ngay tại chỗ.

Có hai cách tiếp cận có thể xảy ra, và có lẽ có sự mơ hồ nào đó giữa hai cách này. Tuy nhiên, nếu có người đủ khéo – không nhất thiết phải thông minh – và đủ kiên nhẫn để sàng lọc các loại rác rưởi của mình rồi tìm hiểu tường tận thì sẽ có thể sử dụng chúng. Vì thế, trở lại chủ đề về các quan niệm, vốn là một ví dụ rất quan trọng, thì ý tưởng đàng sau nó là phát triển một cái nhìn tích cực và nhận ra gia tài vĩ đại của mình. Và sau khi đã nhận ra các quan niệm và ý tưởng của mình thì ta cũng phải, theo một ý nghĩa nào đó, khai thác chúng. Ta thường có khuynh hướng cố buông bỏ hoặc ném chúng đi. Thế nhưng, ta nên khai thác chúng, không phải theo nghĩa đọc nhiều sách hơn, có nhiều cuộc thảo luận và tranh cãi triết học hơn – đó là cách tiếp cận khác, cách tiếp cận của người bạn điều hành việc kinh doanh – mà đơn giản là ta chỉ cần biết rõ số tài sản ta đã có. Giống như một người muốn mua cái gì đó thì trước hết phải kiểm soát xem mình có bao nhiêu tiền; hoặc giống như tìm đọc lại cuốn nhật ký cũ để thấy những giai đoạn phát triển khác nhau của mình; hoặc leo lên tầng mái và mở hết các chiếc hộp cũ để tìm những con búp-bê và các món đồ chơi khi ta mới lên ba, rồi nhìn và quan sát chúng với bao kỷ niệm gợi nhớ. Bằng cách này ta có một hiểu biết trọn vẹn về những gì chúng ta là, và điều này quan trọng hơn là tiếp tục tạo tác thêm. Cốt tủy của sự chứng đắc không phải là chỉ cố hiểu cho được trạng thái giác ngộ và tảng lờ các mặt khác, vì đó chỉ là cách tự lừa dối mình. Như ta biết, ta là người bạn tốt nhất của chính ta, người bạn gần gũi nhất của chính ta, ta là người cùng hội cùng thuyền với chính ta. Ta biết những yếu đuối và bất nhất của chính ta, ta biết bao nhiêu sai lầm đã phạm, ta biết mọi cái từng chi tiết, vì thế thật vô ích khi cố gắng giả vờ ta không biết, hay cố gắng đừng nghĩ đến mặt kia mà chỉ nghĩ đến mặt tốt; điều đó chỉ có nghĩa ta đang tích chứa thêm rác rưởi của mình. Và nếu ta tích chứa kiểu đó, ta sẽ không có đủ phân bón để thu hoạch một vụ mùa từ cánh đồng tuyệt vời của giác ngộ. Vì thế ta nên xuyên suốt và tìm hiểu lại ngay cả thời thơ ấu của mình; và dĩ nhiên nếu ta có khả năng nhớ lại những kiếp trước thì ta nên làm như thế và cố gắng hiểu hết.

Có một câu chuyện về Brahma. Một hôm ông đến nghe đức Phật thuyết pháp. Đức Phật hỏi, “Ông là ai?” Và lần đầu tiên Brahma bắt đầu nhìn và kiểm tra chính bản thân mình (Brahma biểu trưng cho tự ngã); và lần đầu tiên khi nhìn vào chính mình ông đã không thể nào chịu đựng được. Ông nói, “Tôi là Brahma, là Brahma vĩ đại, là Brahma tối thượng.” Vì thế đức Phật hỏi, “Tại sao ông đến nghe tôi?” Và Brahma nói, “Tôi không biết.” Bấy giờ đức Phật bảo ông, “Bây giờ hãy nhìn vào quá khứ của ông.” Thế là Brahma, với khả năng kỳ diệu nhìn thấy được nhiều kiếp trong quá khứ, bắt đầu nhìn; và ông không chịu đựng được. Ông chỉ cảm thấy bàng hoàng rồi bật khóc trước mặt đức Phật. Lúc đó đức Phật nói, “Tốt lắm, tốt lắm, Brahma! Như thế là tốt lắm.” Như chúng ta biết, đó là lần đầu tiên Brahma sử dụng khả năng kỳ diệu của ông để nhìn về quá khứ xa xôi, và nhờ thế ông đã thấy rõ mọi điều. Điều này không có nghĩa ta bị xuống tinh thần và cảm thấy bi đát về điều gì đó. Điều quan trọng là kiểm tra và xuyên suốt mọi thứ để không có gì không được nhìn thấy rõ ràng. Sau khi đã bắt đầu như thế ta có một cái nhìn trọn vẹn về sự vật – giống như cái nhìn từ không trung có thể bao quát được toàn bộ cảnh vật – và không có bất cứ điều gì ta giả vờ không nhìn thấy.

Ta cũng phải quán sát nỗi sợ hãi và sự mong đợi. Nếu ta sợ chết, ta phải quán sát nỗi sợ đó. Nếu ta sợ già, ta phải quán sát nỗi sợ đó; nếu thấy khó chịu về điều gì đó xấu xa trong chính mình, về sự bất lực hay suy nhược nào đó thì ta cũng phải quán sát hết. Và ta cũng phải quán sát hình ảnh tinh thần của chính ta và bất cứ điều gì ta cảm thấy không tốt. Mới đầu sẽ rất đau khổ – giống như Brahma đã chứng thực điều đó qua sự suy sụp của ông – trong lần đầu tiên ta xuyên suốt và nhìn thấy; nhưng đây là cách hành xử duy nhất của ta. Đôi khi ta chạm phải một nơi rất đau đớn, nơi ta gần như hổ thẹn không muốn nhìn thấy, nhưng dù sao thì ta cũng không được lờ đi. Và nhờ quán sát kỹ càng nên cuối cùng ta đã thật sự điều khiển được chính ta, hiểu biết thông suốt được chính ta lần đầu tiên. Bây giờ ta đã biết các mặt tiêu cực, và có lẽ cũng đã có ý tưởng nào đó về mặt tích cực. Ta vẫn chưa đạt được cái gì cả, ta chỉ vừa bắt đầu gom phân bón. Bây giờ ta phải tìm hiểu thật kỹ và xem sử dụng như thế nào. Đến đây ta đã phát triển được một cái nhìn tích cực và đã có một lượng hiểu biết nào đó; và đó là cái được biết đến như là lý thuyết đích thực. Đó vẫn là lý thuyết, nhưng ta đừng vứt xuống nước. Thật vậy, ta khai thác lý thuyết này và trí não của ta vẫn hoạt động miệt mài, dĩ nhiên là chỉ mới động não đến một mức nào đó; vẫn miệt mài – và không cần phải nhờ đến sách vở, các buổi thuyết giảng hay bàn luận. Đó là một loại suy tư và học hỏi đầu tay. Lý thuyết của ta lúc đó bắt đầu phát triển và được định hình. Và rồi ta bắt đầu khám phá không chỉ các điều tích cực đã làm mà còn cả yếu tố giác ngộ ở trong ta. Ta bắt đầu ý thức ta có khả năng lớn lao để sáng tạo một lý thuyết tuyệt vời như thế. Ở giai đoạn này dĩ nhiên ta thường cảm thấy mình đã đạt được trạng thái giác ngộ, một trạng thái satori; thế nhưng đó chỉ là một sự nhầm lẫn. Dĩ nhiên trong khám phá đầu tiên này ta thấy rất phấn khích, rất vui vẻ, thế nhưng ta vẫn phải đi tiếp. Vì thế, sau khi đã thấu suốt những điều này, đã tìm hiểu và khám phá chúng, ta thấy rằng lý thuyết của ta không có dừng lại, như lý thuyết thông thường dừng lại sau khi đọc xong một cuốn sách viết về triết học – hay kinh điển. Trái lại, lý thuyết của ta vẫn tiếp tục. Có một sự tìm tòi liên tục, một sự khám phá liên tục. Dĩ nhiên lý thuyết này thỉnh thoảng cũng có dừng lại. Ta đạt đến một điểm nào đó khi ta trở nên bị cuốn hút bởi toàn bộ sự việc, ta tìm kiếm với quá nhiều háo hức, và rồi ta dừng lại, không thể đi tiếp được nữa. Điều đó không có nghĩa sự suy sụp hay trắc trở đã xảy ra, mà chỉ có nghĩa ta đang đổ quá nhiều công sức cho một ý tưởng, ta đang cố gắng quá nhiều với cái tâm tìm kiếm. Lúc đó ta phải chuyển hướng khác đi, không nôn nóng, không lôi cuốn, bước từng bước một – như kinh nói: với bước chân voi. Ta phải bước đi thật chậm, không ủy mị, mà thật uy nghi, từng bước một, như con voi bước đi trong rừng.

Vì thế cuộc chiến đấu miệt mài của ta có thể rất chậm chạp, nhưng Milarepa nói, “Hãy vội vàng một cách chậm rãi và chẳng mấy chốc các ông sẽ đến nơi.” Vào lúc này, lý thuyết không còn là lý thuyết nữa. Nó cũng là một loại tưởng tượng. Rất nhiều điều tưởng tượng xảy ra. Và sự tưởng tượng này có thể chỉ là hoang tưởng; nhưng một lần nữa, ta không được loại bỏ nó. Ta không được xem nó là tà đạo, làm như ta cần phải quay về chánh đạo, mà đúng ra là ta phải tận dụng sự tưởng tượng. Vì thế lý thuyết mang lại sự tưởng tượng, vốn là khởi đầu của cái biết bằng trực giác. Lúc đó ta khám phá rằng ta có một khả năng tưởng tượng rất lớn, và vì thế ta cứ đi tiếp, từng bước một. Ở giai đoạn kế tiếp ta vượt qua sự tưởng tượng; và điều này không có gì hoang tưởng cả. Có cái gì đó trong ta chân thật hơn sự tưởng tượng, cho dù vẫn mang màu sắc của tưởng tượng. Bằng cách nào đó nó vẫn được trang sức bằng những đường nét tưởng tượng, nhưng đồng thời vẫn có cái gì trong đó. Nó giống như đọc một cuốn sách dành cho trẻ con; ví dụ thế. Cuốn sách viết cho trẻ con và toàn chuyện tưởng tượng, nhưng vẫn có cái gì trong đó. Có lẽ tác giả đơn giản hóa kinh nghiệm của mình, hoặc cố làm như trẻ con, nên ta vẫn tìm thấy có cái gì trong đó; và bất cứ câu chuyện nào cũng đều có cái tương tợ như thế. Và sự tưởng tượng đó không phải là hoang tưởng mà là sự tưởng tượng thật sự. Nếu ta nhìn lại lý thuyết, hay truy tìm những bước đi đầu tiên của ta – điều này có thể hình như hơi mệt mỏi, thậm chí không cần thiết – nhưng sự thật thì không phải thế. Ta không uổng phí thời gian chút nào cả.

Ta đã rải phân bón rất đều trên đồng ruộng và bây giờ là lúc gieo hạt và chờ vụ mùa tăng trưởng. Đó là sự chuẩn bị ban đầu, và bây giờ ta sẵn sàng để khám phá. Và sự khám phá đó bắt đầu phát triển. Có nhiều chuyện ta muốn hỏi và nhiều điều vẫn không rõ ràng lắm. Nhưng thật ra ở giai đoạn này ta thật sự không cần phải hỏi gì cả. Có lẽ ta chỉ cần người nào đó bên ngoài nói rằng nó là thế đấy cho dù câu trả lời đã sẵn trong ta. Câu hỏi giống như lớp vỏ bên ngoài, giống vỏ củ hành, và khi ta bóc nó đi thì câu trả lời có ở đó. Đây là điều Asanga, nhà triết học và luận lý học vĩ đại của Phật giáo, gọi là “cái tâm trực giác”. Trong loại tâm trực giác này, nếu ta nghiên cứu kỹ luận lý học đích thực, ta thấy rằng những câu trả lời – và thái độ của người đối lập – đã có trong ta. Vì thế ta không phải tìm kiếm câu trả lời, vì câu hỏi chứa đựng câu trả lời trong đó. Việc cần làm là hãy đào sâu vào. Đó là ý nghĩa đích thực của luận lý học. Ở giai đoạn này ta đã đạt đến một loại tình cảm nào đó; sự tưởng tượng trở thành một loại tình cảm. Và với tình cảm đó dường như ta đã đến được lối vào.

Sự Trao Truyền

Vì thế, sau mọi thứ chuẩn bị thì cuối cùng ta đã sẵn sàng phát khởi sự giác ngộ. Việc kế tiếp cần phải làm là đến gặp một guru, và nhờ ông chỉ dẫn trạng thái giác ngộ – ta hãy làm như ông đang cất giữ của cải của ta, làm như ai đó đang sở hữu của cải của ta, và ta đang xin họ trả lại. Đúng vậy, đó là điều đang xảy ra, và ta phải thực hành một loại lễ nghi nào đó. Khi ta hỏi, thầy ta sẽ chỉ dẫn cho ta. Điều này được gọi là sự trao truyền. Từ ngữ trao truyền hay abhisheka đặc biệt được dùng trong Kim cang thừa và giáo pháp Du-già Phật giáo. Nó được dùng nhiều trong truyền thống Tây tạng và trong cả Thiền tông. Trao truyền không có nghĩa thầy ta đang trao cho ta kiến thức hay những khám phá của ông – điều đó không thể thực hiện được. Ngay cả đức Phật cũng không thể làm được. Tuy nhiên, toàn bộ vấn đề là ta hãy ngưng tích góp bất cứ cái gì nữa, và chỉ tìm cách làm trống rỗng bất cứ cái gì ta có. Và để tránh tích góp bất cứ cái gì thêm nữa, để tránh sạt điện cho tự ngã, ta cần hỏi xin người ngoài cho ta cái gì đó, để cảm thấy rằng ta đã được ban cho cái gì đó. Lúc đó ta sẽ không xem đó là của cải của ta được người đó trả lại, mà là cái rất quý giá của người đó. Vì thế ta cũng phải biết tri ân thầy mình. Và đó là sự bảo vệ lớn lao chống lại tự ngã, vì ta không xem đó là cái được tìm thấy trong chính ta, mà là cái người khác ban cho ta. Thầy ta cho ta món quà này; mặc dù trong thực tại, như ta đã nói, sự trao truyền không phải là cái được trao cho ta mà nó chỉ được tìm thấy trong chính ta. Tất cả những gì thầy ta có thể làm là tạo ra một hoàn cảnh. Ông sẽ tạo ra hoàn cảnh đúng, và nhờ hoàn cảnh này và môi trường này mà tâm trí của người học trò cũng sẽ ở trong tình trạng đúng, bởi vì anh ta đã ở đó. Nó giống như đi xem hát: mọi thứ đã được làm sẵn cho ta – ghế ngồi, sân khấu, vân vân – vì thế khi bước vào đó ta tự động cảm thấy rằng ta đang tham dự một sự vụ đặc biệt nào đó. Bất cứ khi nào ta đi đến một nơi và tham gia cái gì đó, ta đều trở thành một phần của nó bởi vì hoàn cảnh đã được tạo ra. Trong trường hợp trao truyền thì hoàn cảnh có hơi khác, tuy nhiên vẫn có một hoàn cảnh. Có thể thầy ta sẽ không nói gì cả, hoặc có lẽ thầy ta sẽ giải thích rất dong dài đề tài nào đó, hoặc có thể sẽ thực hành một nghi lễ nào đó, hoặc cũng có thể làm cái gì đó rất tức cười.

Có câu chuyện kể về Niropa, một pandit Ấn-độ vĩ đại, một mahapandita (Đại Hiền triết), của trường Đại học Nalanda. Ông là một pandit vĩ đại vào thời kỳ đặc biệt đó của lịch sử Phật giáo. Ông được biết đến như là pandit vĩ đại của Ấn – cũng như của toàn bộ thế giới thuộc lãnh vực đó. Ông thuộc lòng tất cả các thánh điển, hiểu biết tất cả triết học và mọi thứ, nhưng ông không vừa lòng với chính mình; vì ông chỉ nói ra những gì ông đã học mà không bao giờ thật sự học được chiều sâu của nó. Thế rồi, một hôm đang tản bộ trong hành lang nhà trường ông tình cờ nghe được một nhóm ăn mày trò chuyện bên lối vào chính. Ông nghe họ nói có một đại sư du-già tên là Tilopa, và khi nghe cái tên này ông hoàn toàn chắc rằng đó chính là guru đích thực của ông, vì thế ông quyết định đi tìm ngài. Ông cho những người ăn mày thức ăn và hỏi xem Tilopa sống ở đâu. Họ chỉ chỗ cho ông nhưng ông cũng đã phải mất khoảng mười hai tháng tìm kiếm. Mỗi lần ông tưởng đã tìm ra đúng chỗ thì người ta lại bảo ông ấy đã đi nơi khác. Cuối cùng ông đến một làng đánh cá nhỏ và hỏi thăm về Đại hành giả du-già Tilopa. Một ngư dân nói, “À, tôi không biết ‘đại hành giả du-già’ gì cả, nhưng có một người tên Tilopa đang sống ở bờ sông dưới kia. Ông ta rất lười và không ăn cá. Ông ta chỉ sống bằng những thứ ngư dân vứt đi – đầu cá, lòng cá, chỉ có thế.” Naropa nghe theo lời chỉ dẫn, nhưng khi đến nơi ông chỉ thấy một lão ăn mày, trông rất yếu ớt, thậm chí ngay cả nói năng e rằng cũng không còn sức. Tuy nhiên ông vẫn quỳ xuống và xin dạy bảo. Trong ba ngày Tilopa chẳng nói gì, nhưng cuối cùng ông gật đầu. Naropa hiểu rằng ông đã nhận mình làm đệ tử. Rồi Tilopa nói, “Hãy theo ta”. Thế là Naropa đi theo thầy mình trong mười hai năm dài, trải qua bao nhiêu gian khó trong suốt thời gian đó. Một hôm Tilopa nói rằng ông rất đói. (Tôi nhắc đến điều này vì đó là một phần của sự truyền trao. Quý vị thấy đó, Tilopa đang tạo ra một hoàn cảnh thích hợp.) Vì thế ông yêu cầu Naropa đi kiếm thức ăn. Bấy giờ, Naropa là một người rất tao nhã – ông sinh ra trong một gia đình bà-la-môn – nhưng ông phải sống qua cảnh này, theo gương Tilopa. Vì thế ông tìm đến một ngôi làng nơi người ta đang tổ chức một tiệc cưới hoặc một bữa tiệc đặc biệt thuộc loại gì đó. Lúc đầu ông cố xin, nhưng người ta cấm xin ăn vào ngày mở tiệc đặc biệt đó. Ông bò vào nhà bếp, lấy trộm một chén cháo và rồi chạy về dâng cho thầy mình. Tilopa hình như rất vừa lòng. Thật vậy, lần đầu tiên Naropa nhìn thấy nét tươi vui tuyệt vời trên khuôn mặt người thầy. Ông nghĩ, “À, thật tuyệt vời. Ta nghĩ mình nên đi kiếm một chén nữa.” Tilopa biểu đồng tình và nói ông muốn một chén nữa. Nhưng lần này Naropa bị bắt. Ông bị đánh gãy tay chân và bỏ nằm dưới đất, dở sống dở chết. Vài ngày sau Tilopa tìm đến bảo, “A, chuyện gì thế? Sao ngươi không về?” Thầy ông có vẻ hơi giận dữ. Vì thế Naropa nói, “Con đang chết.” Nhưng thầy ông nói, “Đứng lên. Ngươi không chết được. Ngươi vẫn phải theo ta trong nhiều năm nữa.” Nghe vậy, ông cố đứng lên và cảm thấy rất bình thường. Quả vậy, chẳng có gì bất ổn cả.

Dịp khác họ đi đến một con kênh thật sâu, đầy đỉa. Tilopa nói ông muốn đi qua và bảo Naropa nằm ngang con kênh làm cầu. Thế là ông nằm xuống, cả người ngập nước. Và khi Tilopa bước qua, Naropa thấy hàng trăm con đỉa bám đầy người mình, và ông đã bị bỏ nằm ở đó nhiều ngày. Những chuyện như thế xảy ra thường xuyên. Cho đến một ngày vào tháng cuối cùng của năm thứ mười hai, ông đang ngồi với Tilopa thì bỗng nhiên Tilopa tháo chiếc giày rồi quất vào mặt ông. Vào đúng khoảnh khắc đó những lời dạy về mahamudra lóe lên trong tâm ông như một tia chớp và ông đã đạt được sự chứng đắc. Sau đó có một bữa tiệc lớn, và Tilopa bảo ông, “Đó là tất cả những gì ta có thể chỉ cho ông. Tất cả giáo pháp của ta giờ đây đã trao hết cho ông. Mai sau, nếu có người muốn đi theo con đường Đại thủ ấn thì phải học và tiếp nhận các huấn thị từ Naropa. Sau ta, Naropa là vị vua thứ hai.” Và chỉ sau đó Tilopa mới giải thích chi tiết mọi giáo pháp cho Naropa.

Đó là ví dụ về sự “trao truyền”. Dĩ nhiên, vào thời đó con người kiên nhẫn hơn và đủ sức lực để trải qua một thời gian dài như thế và cũng được chuẩn bị để làm như thế. Tuy nhiên, ý nghĩa không phải là Naropa chỉ nhận được sự giáo huấn vào thời điểm bị đánh chiếc giày vào đầu. Tiến trình học đạo của ông diễn ra suốt mười hai năm trời mà ông đã trải qua với thầy mình. Tất cả những khó khăn và những giai đoạn khác nhau ông đã trải qua là một phần của việc trao truyền. Đó là vấn đề thiết lập và tạo dựng bầu không khí. Cũng như thế, những nghi lễ trao truyền nào đó, những nghi thức abhisheka, là một phần của tiến trình tạo ra một hoàn cảnh, bao gồm căn phòng, con người, và câu nói, “Trong vòng ba ngày ta sẽ dạy ông, và việc trao truyền rồi sẽ xảy ra.” Bằng cách này, tâm trí người học sẽ mở rộng ra. Và khi người học đã mở rộng ra thì người thầy sẽ nói vài lời, có lẽ không có nhiều ý nghĩa lắm, hoặc có thể sẽ không nói gì cả. Điều quan trọng là tạo dựng được một hoàn cảnh đúng, cho thầy cũng như trò. Và khi hoàn cảnh đúng đã được tạo ra thì đột nhiên cả thầy và trò đều không còn ở đó nữa. Thầy sẽ xuất hiện như một lối vào, và trò cũng xuất hiện như một lối vào. Và khi cả hai khung cửa khai mở thì sẽ có một sự trống rỗng hoàn toàn, một cái một trọn vẹn giữa thầy và trò. Đây là điều thuật ngữ Thiền tông gọi là “sự giao hội giữa hai tâm”. Khi người học giải được công án cuối cùng thì cả thầy và trò đều im lặng. Thầy không nói, “Con đúng rồi” hay “Bây giờ con đã có nó.” Người thầy dừng lại; và học trò cũng dừng lại. Và có một giây phút im lặng. Đó là sự trao truyền – sự tạo lập một hoàn cảnh đúng – đó là tất cả những gì một guru ở bên ngoài có thể làm. Đó cũng là tất cả những gì ta có thể làm. Sự trao truyền chỉ là việc mở ra ở cả hai phía, mở ra toàn bộ sự vật. Tự thân ta mở ra trọn vẹn theo một thể cách mà, dù có thể chỉ trong một vài giây, nhưng bằng cách nào đó nó lại có ý nghĩa vô cùng. Điều đó không có nghĩa là ta đã đạt ngộ, mà là ta đã thoáng thấy được thực tại là gì. Và điều này không có gì để phấn khích hay giật mình, cũng không nhất thiết phải là một kinh nghiệm làm đảo lộn trời đất. Chỉ là một cái gì đó mở ra, một tia chớp lóe lên; chỉ thế thôi. Dù ta thấy nó được mô tả trong kinh sách là “đại an lạc” hay “đại thủ ấn” hay “tâm giác ngộ” hay “satori” – với đủ loại từ ngữ và danh xưng; thế nhưng sát-na thật sự thì rất đơn giản, rất thẳng thắn. Đó chỉ là sự gặp gỡ của hai tâm. Hai tâm trở thành một. 

Sự Độ Lượng

Sự độ lượng, dana, là một trong sáu paramita, hay hành động siêu việt. Par nghĩa đen là “bờ bên kia”. Thật vậy, từ này vẫn rất thông dụng ở Ấn; par – có nghĩa bờ sông bên kia. Mita là người đã đến đó. Vì thế paramita có nghĩa là người đã đến bờ bên kia. Một số học giả xem các paramita như sáu pháp viên mãn (perfections). Chính xác đó là những hành động viên mãn, nhưng từ perfection cũng còn những hàm nghĩa không phù hợp khác. Mục đích của các paramita không phải là nỗ lực thành tựu sự viên mãn; vì thế tốt nhất là nên hiểu các pháp này như là sự siêu việt, tức là vượt lên, vươn xa.

Sáu hành động siêu việt này là những hành động của một bodhisattva (bồ-tát). Bodhi là trạng thái giác ngộ của tâm (awakened state of mind), và sattva là người trên đường đi đến trạng thái giác ngộ đó. Vì thế từ bodhisattva chỉ cho những ai đã thành tựu và những ai có khuynh hướng đi theo con đường của từ bi, con đường của tình thương. Con đường Hinayana, hay “Cỗ xe nhỏ” – được biết đến như là con đường sơ đẳng, con đường căn bản, hay con đường hẹp – đặt nền tảng trên sự rèn luyện kỷ luật hay sự kiểm soát thân tâm, là đòi hỏi đầu tiên trong việc phát triển sự tự do. Con đường này không chỉ rèn luyện tâm ý dựa vào thiền hành mà còn rèn luyện cả sự nói năng và cách hành xử. Cách rèn luyện này khác hẳn việc định đặt các giới luật đạo đức để rèn luyện theo nghĩa “tội” và “phước”. Ý nghĩa chân chính của cách rèn luyện này là hành động đúng đắn, hành động chân thật, hành động thấu đáo, hành động theo quy luật của cái đang là. Vì thế ta phải hiểu quan niệm về kỷ luật này, hay sila paramita (giới ba-la-mật), thật rõ ràng. Nó trở thành nền tảng của mọi thứ. Ta có thể nói đó là con đường hẹp, vì tự thân nó là sự giản dị. Chẳng hạn, nếu chỉ có một lối đi nhỏ băng qua đèo và phần đất còn lại mọc đầy cây lớn, cây bụi, vân vân, thì lúc đó ta chẳng có khó khăn nào cả khi quyết định phải đi lối nào. Nếu chỉ có một lối đi thì hoặc ta đi tiếp hoặc ta trở về. Toàn bộ sự việc được đơn giản hóa thành một sự kiện, hay một sự tương tục. Vì thế rèn luyện kỷ luật không đóng khung các hoạt động của ta bằng việc tuyên bố rằng những điều như thế như thế thì trái với thánh giới hay phi đạo đức. Điều chính yếu là chỉ có một con đường thật sự giản dị phía trước chúng ta. Tự nền tảng rèn luyện kỷ luật chính là sự thực hành shamatha (thiền chỉ) để phát triển tỉnh giác, qua đó ta chỉ thấy cái đang là. Mọi thời khắc đều là bây giờ, và ta hành động qua kinh nghiệm của phút giây hiện tại. Đến đây ta đã nói xong về con đường hẹp.

Từ đó chúng ta đến với Mahayana, “Cỗ xe lớn”; đó là con đường mở rộng, con đường của bồ-tát. Con đường hẹp không những giản dị và thẳng tắp mà còn có tính cách vĩ đại. Dựa trên nền tảng đó chúng ta phát triển từ bi. Trong thực tế từ bi chẳng liên quan gì đến việc thông cảm với đau khổ của người khác – theo nghĩa giúp đỡ người nghèo, người gặp khó khăn, hoặc tử tế với hàng xóm, hoặc đóng góp tặng phẩm đều đặn cho dân tỵ nạn, hoặc ghi danh vào nhiều tổ thức từ thiện khác nhau; mặc dù từ bi cũng có thể bao gồm tất cả những việc đó. Làm từ thiện là cái căn bản; nó phát triển sự nhiệt tình trong tự thân chúng ta. Xuất phát từ sự giản dị và tỉnh giác, các bồ-tát phát triển sự nhiệt tình không phải của chính mình. Thậm chí cả sự lợi lạc về tâm lý của chính họ, họ cũng không nghĩ đến. Họ không nghĩ, “Ta muốn nhìn thấy chúng sinh không bị khổ đau.” Chủ ngữ “Ta” không còn trong suy nghĩ của họ. Họ nói năng, suy nghĩ, và hành động một cách tự nhiên, ngay cả những khái niệm “giúp đỡ”, “thành tựu bất kỳ mục đích đặc biệt nào”, họ cũng không còn nghĩ đến. Họ chẳng hành động vì những lý do “tôn giáo” hay “từ thiện” nào cả. Họ chỉ hành động theo cái giây phút chơn chất ở hiện tại, trong đó họ phát triển một loại tình cảm nồng nàn. Và có một sự nhiệt tình vĩ đại trong sự tỉnh giác này, và đồng thời có cả sự sáng tạo vĩ đại. Không gì có thể giới hạn được hành động của họ; và tất cả các loại xung lực sáng tạo thật sự sinh khởi trong họ và bằng cách nào đó chúng hoàn toàn đúng đắn ở vào giây phút đặc biệt đó. Mọi thứ xảy ra và họ chỉ vượt qua tất cả, vì thế có một sự sáng tạo liên tục và siêu đẳng trong họ. Đó là hành động karuna thật sự – một từ Sanskrit có nghĩa “trái tim cao thượng” hay “trái tim từ bi”. Vì thế trong trường hợp này từ bi không chỉ có nghĩa là sự tử tế, mà là lòng từ bi căn bản, lòng từ bi vô ngã. Họ thật sự không còn ý thức về bản thân họ, vì thế từ bi có phạm vi lớn hơn để mở rộng và phát triển; bởi vì ở đây chỉ có sự tỏa nhiệt mà không có thiết bị tỏa nhiệt. Và khi chỉ có sự tỏa nhiệt này hiện hữu mà không có một thiết bị tỏa nhiệt thì sự tỏa nhiệt này có thể tiếp tục mãi mãi và năng lượng không bao giờ bị cạn kiệt. Nó luôn luôn được chuyển hóa và khi nó lan tỏa càng ngày càng rộng hơn thì nó luôn luôn chuyển đổi thành một cái khác, thành một hoạt động sáng tạo mới; vì thế nó diễn tiến liên tục không ngừng nghỉ. Sự chuyển hóa sáng tạo này không chỉ là một khái niệm lý thuyết hay triết học, mà nó thật sự xảy ra theo một nghĩa thực tế, đôi khi theo cách rất đơn giản.

Bây giờ ta có thể quay sang sự độ lượng. Sự độ lượng sinh khởi khi bồ-tát say sưa với lòng từ bi và không còn ý thức về bản thân mình. Tâm họ không chỉ chứa đầy từ bi mà đã trở thành từ bi. Tâm và từ bi trở thành một. Có sáu hoạt động kết hợp với tâm từ bi: sự độ lượng, đạo đức hay kỷ luật (kỷ luật tự nhiên, hành động theo chánh pháp), sự kiên nhẫn, có năng lượng, và sự trong sáng (cũng gọi là trí huệ hay biết rõ hoàn cảnh). Những hoạt động này gọi là paramita, tức các hành động siêu việt, như ta đã biết. Cho tôi được nhắc lại rằng bồ-tát không hành động để trở thành đạo đức hay để khắc phục tội lỗi hay tà hạnh; tâm họ không vướng bận bên tà hay bên chánh, bên thiện hay ác. Nói cách khác, hoạt động của họ không có giới hạn, không bị ràng buộc hay quy định bởi thiện và ác. Vì thế nó siêu việt, nó là cái vượt lên trên. Có thể điều này nghe hơi trừu tượng, hơi khó nắm bắt, và ta có thể hỏi, “Làm thế nào một hành động độ lượng có thể là siêu việt? Đây không chỉ là một định nghĩa triết học sao?” Không phải, trong trường hợp này nó không phải, bởi vì nó không chỉ chỉ cho hành động của họ. Tâm của họ không đơn giản vận hành như thế. Khi họ hành động, họ hoàn toàn tự nhiên, tự do, và hiện-hữu-trong-hiện-tại. Vì thế họ hoàn toàn mở rộng, và về tâm của họ thì nó bất động. Hoạt động sinh khởi chỉ khi hoàn cảnh tự trình hiện. Có thể họ không liên tục ở trong trạng thái tỉnh giác vô ngã, nhưng ít ra họ hành động tự nhiên, họ hành động khế hợp với Pháp. Và định nghĩa Pháp ở phương diện này chính là quy luật chân chính, quy luật của vũ trụ. Sự không thiên vị là Pháp. Có nghĩa rằng Pháp không liên quan đến bất cứ hình thái mong muốn thành tựu nào, vì thế hành động độ lượng được thực hiện mà không liên hệ đến bất kỳ phần thưởng đặc biệt nào. Vì thế độ lượng có nghĩa là không sở hữu.

Nếu có tiền của, người ta có thể nói rằng, “À, bây giờ ta đã có cơ hội thực hành sự độ lượng bởi vì ta đã có cái để thực hành.” Nhưng đối với bồ-tát, vấn đề này chẳng hề xuất hiện; đó không phải là vấn đề sở hữu cái gì đó. Độ lượng chỉ là một thái độ của tâm, trong đó ta không muốn sở hữu để rồi phân phát cho mọi người. Hơn nữa, độ lượng không những chỉ cho sự thực hành thiền, trong đó ta có thể cảm nhận tính cách vô ngã không giữ lại bất cứ gì, mà độ lượng còn là cái rất tích cực. Trong kinh đức Phật nói về sự thực hành độ lượng bằng cách duỗi cánh tay ra và co cánh tay vào. Có một câu chuyện vào thời đức Phật, kể về một lão bà ăn xin. Bà lão là một trong những người ăn xin nghèo nhất Ấn-độ; vì bà không chỉ nghèo của cải mà cái tâm của bà cũng nghèo nữa. Bà ta muốn có thật nhiều, và điều này làm bà cảm thấy càng nghèo hơn. Một hôm bà nghe tin đức Phật được mời đến nhà của Cấp Cô Độc ở Kỳ viên. Cấp Cô Độc là một phú gia và là một thí chủ vĩ đại. Thế là bà quyết định đi theo đức Phật vì biết rằng Ngài sẽ cho bà bất cứ thức ăn gì còn thừa lại. Bà tham dự lễ cúng dường thực phẩm cho tăng-già, cho đức Phật, và rồi ngồi chờ cho đến khi đức Phật trông thấy bà. Đức Phật quay sang hỏi bà muốn gì. Dĩ nhiên Ngài biết, nhưng phần bà buộc phải thừa nhận và nói ra. Vì thế bà nói, “Con muốn thức ăn, con muốn Ngài cho con những thứ còn thừa.” Đức Phật bảo, “Nếu thế, trước tiên bà phải nói không. Bà phải từ chối khi ta đưa thức ăn cho bà.” Ngài đưa thức ăn cho bà, nhưng bà thấy rất khó nói “không”. Bất cứ lúc nào ai đó có cái gì đó hoặc cho bà cái gì đó, bà luôn nói, “Vâng, tôi muốn cái đó.” Vì thế bà thấy rất khó để nói “không” vì bà không quen với từ ngữ đó. Sau cùng, cố gắng mãi bà cũng nói được chữ “không”, và rồi đức Phật đưa thức ăn cho bà. Và rồi qua đó bà ý thức được rằng cơn đói thật sự ở trong người bà chính là sự ham muốn sở hữu, nắm bắt, tư hữu, sở đắc. Đây là ví dụ về cách ta có thể thực hành lòng độ lượng. Và từ cái nhìn này ta có thể thực hành sự độ lượng đối với bản thân ta. Vì điều quan trọng ở đây là giải thoát mình khỏi tính sở hữu, khỏi cảm giác luôn luôn thiếu thốn này.

Thế rồi bước kế tiếp dĩ nhiên là cho đi những vật sở hữu của ta. Nhưng điều này không nhất thiết phải liên quan đến sự khắc khổ. Nó không có nghĩa rằng ta không nên sở hữu bất cứ cái gì cả, hay ta nên cho đi những gì ta có ngay tức khắc. Ta có thể có rất nhiều tiền của và ngay cả còn thích thú về điều đó, và có lẽ ta có mối quan tâm riêng tư về điều đó – giống như trẻ con hay cả người lớn thích món đồ chơi của mình. Đây không phải là vấn đề không thấy được giá trị các vật sở hữu. Điểm đáng nói là chúng ta dễ dàng cho đi cũng giống như dễ dàng sở hữu. Nếu có người hỏi xin ta một vật đặc biệt mà lúc nào ta cũng muốn có nó bên mình thì ta không nên chần chừ gì cả, mà hãy cho đi. Vấn đề thật sự là hãy từ bỏ khái niệm sở hữu này. Bởi vì có một sự thèm khát đang vận hành trong ta.

Có một câu chuyện ở Tây tạng kể về hai anh em nọ. Một người sở hữu chín mươi chín con bò trong khi người kia chỉ có một con. Người anh em nghèo túng rất hài lòng với con bò của mình. Anh ta rất hạnh phúc và nghĩ mình có rất nhiều của cải. Anh ta có một con bò và đó thật sự là tất cả những gì anh ta cần. Như thế là rất đủ, nhất là anh ta không sợ mất nó. Thật vậy, sự thích thú có được con bò của anh ta thì lớn hơn nỗi sợ bị mất nó; trong khi người anh em kia luôn luôn lo sợ bị mất những con bò của mình. Anh ta luôn phải trông nom chúng; và như ta biết, ở vùng cao nguyên Tây tạng có rất nhiều chó sói và loài báo núi Himalaya; và bò thường rất dễ chết trong mùa đông khắc nghiệt. So với những nơi khác, ở Tây tạng việc trông coi bò gặp rất nhiều trở ngại. Vì thế một hôm người anh em giàu có nghĩ, “À, ta nghĩ ta sẽ xin người anh của ta giúp đỡ.” Như ta biết, anh ta không những sợ mất bò mà còn thích có nhiều thêm. Rồi anh ta đến gặp anh mình và nói, “À, em biết anh chỉ có một con bò. Việc này cũng chẳng làm anh khác đi bao nhiêu. Vì thế nếu anh chẳng có con nào cả thì thật sự cũng chẳng hề hấn gì. Nhưng nếu anh cho em con bò của anh thì em sẽ có một trăm con; điều này rất có ý nghĩa đối với em. Ý em muốn nói có một trăm con bò thật sự không phải là chuyện đùa. Nếu em được như thế, em sẽ thật sự giàu có và tiếng tăm.” Thế là anh ta hỏi xin, và người anh cho anh ta thật dễ dàng. Anh không chần chừ; anh chỉ việc cho nó. Câu chuyện này đã trở nên rất phổ biến ở Tây tạng, chỉ rõ rằng khi ta có nhiều thì ta lại muốn nhiều hơn nữa, và khi ta có ít thì lại sẵn lòng cho đi.

Vì thế có tính sở hữu này, có sự đói khát về mặt tâm lý này. Và điều này không chỉ liên quan đến tiền bạc của cải mà còn cả cảm giác sâu xa muốn sở hữu, muốn đeo bám, khao khát những thứ rõ ràng đã thuộc về ta. Ví dụ ta đang đi mua sắm. Có thể ta sẽ thấy bất hạnh trong suốt thời gian đó. Và khi nhìn thấy những thứ ta thích, điều này luôn tạo một sự thống khổ trong tâm ta vì ta nghĩ, “Nếu ta mà có tiền thì ta có thể mua cái đó rồi.” Vì thế suốt thời gian ta rảo bộ qua các cửa tiệm, sự đói khát này tạo ra sự đau đớn lớn lao. Trong khi một người khác có thể lại thích thú việc chỉ nhìn ngắm. Vì thế cái muốn làm chủ, muốn sở hữu và không sẵn sàng cho đi thì thật sự không phải là sự yếu đuối đối với bất cứ sự vật đặc biệt nào. Thông thường ta muốn bận rộn với cái gì đó, và nếu ta đánh mất sự quan tâm đến cái đặc biệt đó thì ta luôn muốn thế chỗ nó bằng một cái khác. Không phải ta không xoay xở được nếu như không có một chiếc xe hơi hay một hệ thống sưởi trung tâm, hay bất cứ cái gì đó. Luôn luôn có cái nằm sau nó, cái gì đó căn bản, một sự ham muốn sở hữu, ham muốn làm chủ, đang luôn thay đổi và phát triển và thay thế cái này bằng cái khác. Vì thế đó là sự yếu đuối đích thực – mặc dù không hẳn là sự yếu đuối nhưng là một thói quen mà ta có khuynh hướng hình thành trong một tiến trình suy tưởng có tính loạn thần. Toàn bộ vấn đề chỉ còn là sự chồng chất các ý tưởng diễn ra không ngừng nghỉ trong đầu chúng ta. Ta không bao giờ để cho bất cứ điều gì thật sự xảy ra hay chiếm chỗ trong tâm chúng ta. Một ý tưởng khởi lên, và trước khi biến mất thì hầu như một ý tưởng khác đã chồng lên, và rồi lại một ý tưởng khác. Vì thế không bao giờ có một khoảng hở nào cho phép ta được tự do và thật sự tiêu hóa các thứ. Vì thế nó trở thành một đòi hỏi liên tục, một tiến trình tạo tác và mong muốn sở hữu liên tục. Và đó là lý do tại sao ta phải phát triển tính độ lượng này để thật sự mở rộng chính mình.

Giai đoạn kế tiếp có lẽ là sự biểu hiện sâu sắc hơn của lòng độ lượng: sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Đây là điều khá gay cấn; bởi vì cũng có nguy cơ là ta sẽ cố dạy người khác những điều ta đã học. Vấn đề này khá tế nhị. Có lẽ ta sẽ trình bày một phần điều ta muốn nói; có thể nội dung khá lôi cuốn. Và có lẽ ta biết nhiều về đề tài này hơn người khác và muốn phô trương. Điều này hơi gay cấn. Tuy nhiên, tìm cách diễn đạt thành lời – bất cứ cái gì ta đã thành tựu – và truyền đạt cho người khác, là cách duy nhất để phát triển chính ta. Điều này đặc biệt ứng dụng cho những người đi giảng dạy. Và đối với những người thầy cao cấp – thật ra thì đối với bất cứ người thầy nào – điều cần thiết là không chỉ học và giữ lại mọi điều, mà là ứng dụng có hiệu quả bằng cách hoằng truyền, cho dù không có ý tưởng trông mong được hoàn báo. Đó gọi là bố thí Pháp, trong đó ta cho đi mọi lúc. Dĩ nhiên ta phải rất cẩn trọng, đừng tặng món quà không phù hợp cho người không phù hợp. Ví dụ, nếu có người không hăng hái lắm để lắng nghe các kinh nghiệm của ta, nhất là có liên quan đến thiền, vân vân, thì ta đừng nói tiếp về điều đó; bởi vì lúc đó chẳng có gì thật sự là bố thí cả. Và có lẽ đối với những người như thế, ta nên cho cái gì đó không phải là Pháp thì thích hợp hơn. Và ta phải nhìn thấy điều đó bằng sự thông minh, sự trong sáng, bằng trí huệ. Prajna paramita (bát-nhã ba-la-mật) sẽ phải giải quyết điều đó. Thế nhưng nhìn chung ta phải cho đi nếu ta muốn nhận vào. Một tiến trình chuyển hóa liên tục xảy ra.

Theo truyền thống Tây tạng, nếu muốn nhận được sự giáo hóa, người ta thường tặng quà cho vị thầy của mình. Tiện đây tôi xin nói rằng điều này không có nghĩa là tôi muốn quyên tiền của thính chúng. Nhưng khái niệm nằm sau sự vụ này là khi ta muốn điều gì – “tôi muốn nhận được sự giáo hóa; tôi muốn hiểu biết một số điều” – thì ta cũng phải cho ra cái gì đó. Điều này cũng làm rõ sự vụ là ta không hẳn là người hoàn toàn nghèo khó phụ thuộc người khác hay hèn mọn vì chỉ mong muốn sự giúp đỡ, mà ta vẫn có cái giá trị để cho đi. Trong truyền thống Phật giáo Tây tạng, khi một người có ý định đi đến Ấn-độ để phiên dịch kinh điển và tiếp thọ giáo huấn từ các vị thầy Ấn-độ, thì trước tiên phải bỏ ra hai năm để gom góp vàng bạc từ khắp nơi Tây tạng. Người ta luôn luôn cho đi cái gì đó trước khi tiếp nhận giáo huấn. Vì thế toàn bộ vấn đề ở đây là ta phải ý thức được giá trị của giáo pháp, cho dù thật sự ta không thể định giá giáo pháp bằng của cải vật chất, mà ta phải sẵn sàng cho ra cái gì đó. Và dĩ nhiên, một trong những điều quan trọng nhất là cho đi tự ngã, một trong những vật sở hữu quí nhất và có giá nhất của ta. Ta phải cho cái đó đi. Có một số thực hành trong truyền thống Tây tạng, như lễ bái. Theo đó, trước khi tu tập bất cứ tầng thiền định nào cao hơn, ta phải lễ lạy một trăm ngàn lần – điều này kết hợp với sự thực hành du-già của Phật giáo. Và ý nghĩa lễ bái là cho đi, tuân phục, rộng mở – một tiến trình làm rỗng, hay sự chuẩn bị cái bình chứa để tiếp nhận. Ta phải mở ra và làm rỗng một cái cốc lành lặn. Đó là những gì ta phải dâng tặng, và rồi ta có thể nhận được mọi thứ nguyên vẹn với đầy đủ giá trị, đầy đủ phẩm chất.

Trong trường hợp của người thầy dĩ nhiên điều đó cũng rất quan trọng. Và tôi đoan chắc rằng tất cả chúng ta đều là thầy dạy theo cách riêng của mỗi người chúng ta; tôi đoan chắc rằng chúng ta luôn có thể giảng dạy người khác theo mức độ riêng của mỗi người chúng ta. Và người thầy phải sẵn sàng học hỏi từ người học; điều này rất quan trọng. Nếu không, chẳng có tiến bộ nào thật sự về phía người học. Vì theo nghĩa nào đó ta sẽ quá hăng hái và lưu tâm đến tiến trình làm cho người học tiếp nhận sự mở rộng tự ngã của chúng ta và mong muốn tạo ra cho người học một “cái ta” mới, hơn là giúp họ phát triển khả năng của chính họ. Vì thế người dạy phải sẵn sàng học hỏi từ người học; và rồi sẽ có một quan hệ thân cận liên tục. Sự trao đổi xảy ra liên tục; lúc đó khi ta dạy, người học sẽ không thấy ta buồn tẻ, vì bản thân ta cũng có sự phát triển. Luôn luôn có cái gì đó khác đi, cái gì đó mới mẻ từng giây phút, vì thế nguyên liệu không bao giờ cạn kiệt. Ta có thể ứng dụng ngay cả điều này vào các môn học kỹ thuật và phương pháp giảng dạy các sự vật. Đó có thể là toán học hay khoa học hay bất cứ môn học nào khác. Nếu người dạy sẵn sàng học hỏi từ người học, lúc đó người học cũng trở nên háo hức để cho, vì thế có tình thương đích thực, và sự nối kết đích thực xảy ra. Đó là sự bố thí vĩ đại nhất. Trong cuộc đời đức Phật, ta có thể nhìn thấy Ngài không bao giờ giáo hóa chỉ với loại thẩm quyền trịch thượng. Ngài không bao giờ sử dụng thẩm quyền như một vị Phật, như một con người giác ngộ. Ngài không bao giờ giáo huấn bằng cách nói rằng “Các ông sai, và ta đúng.” Mặc dù có khi Ngài chỉ ra rằng đây là con đường chính và kia là con đường tà, sử dụng trí phân biệt. Thế nhưng, bằng cách này hay cách khác Ngài luôn luôn khuyến khích những cuộc bàn luận giữa các đệ tử của Ngài. Và đệ tử của Ngài thì luôn luôn góp phần vào sự giáo hóa của Ngài, và Ngài luôn luôn truyền đạt theo một cách nào đó và hỏi các câu hỏi như, “Điều đó có phải như thế không, hay nó không phải như thế sao?” Rồi việc phán đoán được dành lại cho người học. Và rồi Ngài nói, “Đúng” hoặc “Không”, nhưng dù câu trả lời là gì đi nữa thì Ngài đều hình thành từ đó. Vì thế một tiến trình cho-và-nhận liên tục xảy ra; và tôi đoan chắc ta cũng có thể làm như thế theo cách tương tợ. Dĩ nhiên, khi có điều gì đó cần nói, ta thường muốn tìm hiểu thật kỹ trước khi nhận được sự phê phán hay bất cứ phản ứng nào từ người khác. Tất cả điều này thật sự đặt nền tảng trên một nỗi sợ hãi sâu kín, không tự tin vào bản thân mình, vì ta sợ để lộ ra cái khờ khạo của tự ngã. Vì thế ta thường trình bày điều đó như một sự kiện đơn thuần và để yên như thế. Lúc đó, khi người học không thể tham gia vào vấn đề đó, nó sẽ trở nên trang trọng, rất khó khăn và nghiêm trọng, và họ không còn thích học hỏi nữa. Họ bắt đầu ý thức về việc được giáo hóa, được dạy điều này điều kia; và rồi bằng cách nào đó vấn đề không còn tính sáng tạo và nó không còn thật sự ngấm vào nhân cách của họ và có thể giúp họ phát triển khả năng và kiến thức của chính họ.

Và rồi dĩ nhiên, như chúng ta đã nói, sự bố thí của cải vật chất không chỉ là vấn đề cho đi tiền của, mà là thái độ nằm sau sự cho đó. Ta thường thấy ở phương Đông – và tôi không nói rằng phương cách hành xử của phương Đông lúc nào cũng đúng, tôi không sử dụng điều này như một thẩm quyền để cho đó là phương cách xác thực và độc nhất giải quyết mọi chuyện, mà tôi chỉ sử dụng nó như một lời đề nghị – người phương Đông thường cho đi một vật vì đó là thứ họ thích nhất; và họ cho đi vì vật đó biểu trưng tấm lòng của họ. Họ cho đi đủ các thứ, như khăn trùm, các đồ trang sức, tạp dề, giày dép và vòng xuyến, vân vân, của phụ nữ. Không phải họ nghĩ người ta thật sự cần đến những thứ này, mà vì đó là đồ vật quý giá của họ, những thứ thật sự tượng trưng cho chính bản thân họ. Họ có trong họ ước muốn sở hữu này và đó là lý do họ biếu tặng theo cách này. Sự cho và quan niệm về punya (công đức) không chỉ là vấn đề bố thí vật chất và tiêu mất một số tiền lớn; nó còn là vấn đề dự phần vào việc làm đó về mặt vật chất và dấn thân trọn vẹn vào tiến trình trao tặng. Giống như với bất cứ điều gì khác thuộc cùng việc làm này, như tập thiền chẳng hạn, ta phải dấn thân trọn vẹn, phải trở thành một với cái ta đang làm. Vì thế, cùng với việc cho đi các thứ, dù vật đó có ít giá trị đi nữa, ta cũng phải dấn thân trọn vẹn vào việc cho để một phần tự ngã của ta cũng được cho đi. Qua việc làm đó ta đạt được paramita, hành động siêu việt, cái gì đó vươn xa, cái gì đó vượt lên trên. Lúc đó ta không ý thức về “đạo đức” và không ý thức về việc cho đi với nỗ lực trở thành “tôn giáo”, và ta không nghĩ đến sự tiếp nhận bất cứ phần thưởng công đức đặc biệt nào. Nếu ta cho chỉ để thu hoạch công đức thì điều đó thường có khuynh hướng thành hình tự ngã của ta hơn là cho đi thật sự. Vì thế nếu ta có thể cho đi tự ngã, một phần của tính sở hữu và mê muội đó, thì ta đang thật sự thực hành Pháp, vốn là sự không mê muội. Và công đức tự động trở thành một phó phẩm, và sẽ chẳng có giây phút nào ta cố gắng tựu thành bằng được công đức.

* trích Chương 2 MEDITATION IN ACTION, củaChögyam Trungpa Rinpoche. Bài tiếp theo: Nhẫn nhục, Thiền định, Trí huệ. Bản dịch của Đạo Sinh.




Lượt xem: 2158 



XEM THÊM CÙNG THỂ LOẠI


- TU LÀ ĐỂ BIẾT CHÍNH MÌNH THEO TRUYỀN THỐNG THIỀN TÔNG VIỆT NAM
- Thiền Tập Giữa Trận Đồ Tâm Thức
- THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ - CHƯ TỔ KHAI SÁNG
- CƯ TRẦN LẠC ĐẠO
- THIỀN TRONG HÀNH ĐỘNG: NHẪN NHỤC, THIỀN ĐỊNH, TRÍ HUỆ
- THIỀN TRONG HÀNH ĐỘNG - Đời Sống và Tấm Gương Đức Phật
- THIỀN TRÚC LÂM: PHƯƠNG PHÁP THIỀN HỌC
- THIỀN TRÚC LÂM: TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ
- PHẬT DẠY CHĂN TRÂU
- THIỀN TRÚC LÂM VÀ TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO
- D. T. SUZUKI: NHÂN CÁCH VÀ SỰ NGHIỆP

TIN SÁCH

Ghi danh để nhận thông báo sách mới qua email.

Ghi danh nhận tin khi có sách mới

LIÊN LẠC

ĐỊA CHỈ

Thư quán Hương Tích
308/12 Nguyễn Thượng Hiền
Quận Phú Nhuận, TP HCM

Điện thoại: 08 3550 0339
Email: huongtichbooks@gmail.com

Kết nối