TÙY MIÊN - DANH NGHĨA & PHẨM LOẠI


Tuệ Sỹ


TÙY MIÊN - DANH NGHĨA & PHẨM LOẠI[Trích: Tổng Luận Tùy Miên, A-tì-đạt-ma câu-xá cuốn 4: Phân biệt Tùy miên/ Phân biệt Hiền thánh. Hương Tích ấn hành, 1/2017]

1. Danh nghĩa tùy miên
Ưu tư, sợ hãi là một phần của sự sống, mà không một ai trong loài người không từng kinh nghiệm trong suốt cuộc đời của mình. Chúng là những xúc động phản ứng theo bản năng tự nhiên, không thể hoặc rất khó khống chế, trước những đe dọa nào đó đối với tình trạng an toàn của bản thân.
Từ thượng cổ, những xúc động này được biểu hiện qua nhiều hình thái tín ngưỡng khác nhau, với những thần linh, ma quỷ. Lịch sử phát triển của các nền văn minh nhân loại là dấu ấn của chuỗi dài tìm kiếm các biện pháp hoặc chế ngự, hoặc loại trừ.
Đức Phật nói: “Vì sợ hãi, con người đi tìm sự nương tựa nơi thần núi, thần rừng, thần cây, ...”
Với những tiến bộ văn minh, con người lãng dần sự nương tựa nơi các thần linh tôn giáo, thay vào đó bằng sự nương tựa nơi các định chế xã hội, các phương tiện kỹ thuật. Thế nhưng, ưu tư, sợ hãi vẫn còn đó y nguyên.
Trong tất cả những sợ hãi, từ cổ chí kim, từ sinh vật hạ đẳng cho đến cao cấp, có một thứ mà không một sinh vật nào tránh khỏi: sợ chết.
Đức Phật nói, loài người có ba sự sợ hãi: sợ già, sợ bệnh, sợ chết. Thực chất, già và bệnh là những chuyển biến trong quá trình dẫn đến sự chết. Trong chân lý về sự khổ, Phật tách già và bệnh thành hai sợ hãi riêng biệt, vì đây là hiện tượng mà mọi người đều có thể kinh nghiệm, nhưng sự chết, chỉ biết do quan sát tha nhân, chứ không một chúng sinh nào trực tiếp kinh nghiệm về sự chết của bản thân.
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
Trên nền tảng giáo lý nhà Phật mà nói, tự bản chất, tất cả mọi loài sinh vật đều bị điều động bởi khát vọng sinh tồn, và từ đó là bản năng tự tồn biểu hiện qua xúc cảm sợ hãi, từ những sinh vật bé nhỏ nhất cho đến loài thượng đẳng. Tất cả những thứ mà phổ thông gọi là bản năng sinh vật chỉ là những biểu hiện thứ cấp của khát vọng sinh tồn, là một đặc tính tâm lý, mà trong Kinh Phật nó được gọi là ái hay khát ái (tṛṣṇā), chi thứ tám trong 12 chi duyên khởi.
Do bị thúc đẩy bởi khát vọng, và cũng là bản năng sinh tồn, các loại sinh vật từ vi tế nhỏ nhiệm cho đến phát triển cao đẳng, trong lịch sử tiến hóa, đã phát sinh nhiều biện pháp để tự vệ và tự tồn, từ cấp độ vật lý-sinh lý đơn giản cho đến trình độ tâm lý cực kỳ phức tạp, mà ta có thể quan sát, như nơi muỗi mòng các thứ, cho đến rắn, rết, voi, cọp, từ những biện pháp phòng ngự, tránh né cho đến tấn công, và những thủ đoạn lừa gạt kẻ thù. Tất cả những hoạt động này, xét về mặt như là những xúc cảm tiêu cực, trong Phật giáo chúng được nói là những tác động của phiền não.
Bởi vì, như giải thích của Thế Thân trong luận Câu-xá, một trong các đặc điểm của phiền não khi hoạt động là chúng gây tổn hại cho mình và cho người khác. Về mặt này, phiền não (kleśa) được gọi là tránh, theo nghĩa đấu tranh, có gốc từ Sanskrit là raṇa, với nghĩa chiến đấu, xung đột. Các phiền não đều là động lực khởi nghiệp; là động cơ chiến đấu của mọi sinh vật; chiến đấu với hoàn cảnh để tự tồn bằng chiếm hữu hay phòng ngự. Cho nên, khi nói rằng quy luật tồn tại của mọi sinh vật là quy luật đấu tranh sinh tồn, thì cũng nên biết bản chất của tồn tại được tác thành như thế nào bởi ái, và được khởi động như thế nào bởi phiền não.
Phiền não là tên gọi chung cho các yếu tố tâm lý tiêu cực, hoặc chúng dẫn đến tạo tác những nghiệp bất thiện, hoặc chỉ là trạng thái ô nhiễm của thức. Chúng tồn tại trong hai trạng thái: hoạt động, và tiềm phục. Trong trạng thái tiềm phục, chúng được gọi là “tùy miên”.

Tùy miên, là từ Hán dịch của Chân Đế và Huyền Trang. Sanskrit anuśaya (Pāli: anusaya), do gốc động từ anu-śī (anuśete, anuśerate): “nằm theo”. Ý nghĩa danh từ này như vậy có thể thấy rõ, nó chỉ cho phiền não trong tình trạng tiềm phục.
Trước Chân Đế và Huyền Trang, từ này được dịch là “sử”: sai khiến, hay “tùy sử”: bị sai khiến theo. Một đoạn Hán dịch Tạp A-hàm được dịch sát như sau: “Sắc bị sử bởi tùy sử, sắc chết bởi tùy sử. Bị sử bởi tùy sử mà chết bởi tùy sử, nó bị trói buộc bởi thủ.”
Đoạn Kinh này cũng được thấy trích dẫn trong Tì-bà-sa: “Sắc tùy miên tùy tăng, tùy tử. Nếu tùy tăng, tức tùy tử. Nếu tùy tử, tức tùy thủ. Nếu tùy thủ tức tùy phược.”
Trong cách dịch của Huyền Trang, khi được dùng với dạng danh từ, anuśaya, Hán dịch là “miên”; khi dùng với hình thái động từ, anuśete, Hán dịch là “tùy tăng”. Theo ý của Huyền Trang, khi một phiền não tiềm phục nơi đối tượng (sở duyên tùy tăng) nào hay trong một thức nào (tương ưng tùy tăng), ở đó tính chất ô nhiễm của nó tăng gia. Mặt khác, các chức năng của tùy miên được Thế Thân nêu rõ trong phần đầu của phẩm Tùy miên cũng hàm ý nghĩa này.
Theo đó, các tùy miên có công năng dẫn phát quả đẳng lưu, tức liên tục làm phát sinh những quả đồng loại với nó và dẫn dòng chảy tương tục của tâm hướng đến đối tượng ô nhiễm. Trong giải thích của Tì-bà-sa về từ này, tiền tố anu của nó được nhấn mạnh:
(a) anu là một phát âm khác của aṇu khi là tiền tố của một từ. aṇu có nghĩa là vi tế, cực nhỏ nhiệm, cho nên các phiền não mà được gọi là tùy miên vì hình thái hoạt động của chúng cực kỳ vi tế, khó nhận biết như các cực vi (paramāṇu).
(b) Giải thích theo ngữ nguyên, “nó tiềm phục” (anuśete) nên nó được gọi là tùy miên (anuśaya); đó là phiền não tiềm phục (tùy tăng) một cách vi tế trong các pháp hữu lậu. Ở đây nó tiềm phục trong hai cơ sở, theo đối tượng và theo tương ưng.
(c) Tiền tố anu hàm nghĩa “bám sát theo”, do đó hàm nghĩa tùy trục (anugata), đuổi theo, bám sát theo; và cũng hàm nghĩa “tùy phược” (anubandha): buộc chặt theo. Tì-bà-sa cho một thí dụ độc đáo để diễn tả ý nghĩa này: Một con chim bay trên biển; một con cá dưới biển thấy và nhận định: không có loài chim nào, trừ chim chúa cánh vàng (Kim súy điểu vương), có thể vượt qua biển; một lúc nào đó con chim này sẽ đuối sức và rơi; do đó cá đuổi theo bóng chim cho đến khi chim quả nhiên đuối sức và rơi xuống biển, cá bèn đón lấy mà ăn. Cá dụ cho tùy miên. Hành vi đuổi theo, bám sát theo, chỉ cho tùy miên thường xuyên tác động đến phi lý tác ý, tức khả năng nhận thức và phán đoán sai lầm. Sự tác động thường xuyên này làm xuất hiện một yếu tố gọi là đắc (prāpti).
Đắc (prāpti), một trong 14 hành không tương ưng tâm trong Hữu bộ, là một yếu tố tồn tại độc lập đối với tâm và vật, nhưng có tác dụng như lực hấp dẫn, như chất keo, gắn chặt hai tồn tại dính lại với nhau. Ở đây, do sự gắn chặt của đắc, tùy miên trong dạng tiềm phục bám sát phi lý tác ý trong mọi trạng thái. Khi hiện tiền, phi lý tác ý dẫn khởi một phiền não hoạt động; phiền não này do tác động bởi phi lý tác ý lại dẫn sinh phiền não khác, chuỗi dây liên tục như vậy cho đến trăm nghìn phiền não phát sinh. Thế Thân hiểu ý nghĩa tùy phược này như là trạng thái cố kết, theo đó, những tùy miên này là những yếu tố thuộc bản năng, và bản năng này là một thứ khát vọng tồn tại (tṛṣṇā: ái), do đó dù cố ý hay không cố ý, khi có ngoại cảnh tác động đến căn và thức nội giới, chúng tức thì phát khởi hoạt động một cách tự nhiên như là phản ứng theo bản năng bị thúc đẩy bởi khát ái. Yaśomitra (Xứng Hữu) cho một thí dụ về đặc tính tùy phược này: sốt cách nhật bốn ngày; trong khoảng giữa đó, cơn sốt không xuất hiện nhưng chắc chắn nó tiềm phục trong thân người bệnh.
Trên đây là ý nghĩa tùy miên được giải thích trong A-tì-đạt-ma. Ý nghĩa nguyên thủy của tùy miên được Phật nói rõ trong Kinh, khi Phật bảo các Tì-kheo hãy thọ trì, ghi nhận rõ năm hạ phần kết là những phiền não trói buộc chúng sinh vào Dục giới không thể thoát ly. Nhưng hài nhi sơ sinh chưa biết gì nằm ngửa trên giường, ý niệm về hữu thân còn chưa có, nói gì đến hữu thân kiến?... cho đến, ý niệm về hữu tình còn chưa có, do đâu mà khởi sân với các hữu tình? Nhưng trong nó tiềm phục tùy miên hữu thân kiến, cho đến, tùy miên sân.
Hữu thân kiến, giới cấm thủ, nghi, tham và sân, những phiền não gọi là hạ phần kết này không hiện hành nơi hài nhi sơ sinh, nhưng chúng tiềm phục dưới hình thái gọi là tùy miên. Ý nghĩa này cho thấy rõ cơ thể và ý thức con người cần phát triển đến một trình độ nào đó thì các phiền não mới có cơ sở để hoạt động.
Ý nghĩa của Kinh như vậy có thể rõ ràng, nhưng thực chất của các tùy miên này là gì thì có nhiều giải thích khác nhau trong các bộ phái. Trong đó, như Độc tử bộ cho rằng thể tính của các tùy miên chính là đắc (prāpti).
Đây là một khái niệm khó nắm bắt nhất; ngay cả đến trong các nghiên cứu hiện đại cũng không chỉ ra được thực chất nó là gì. Đại khái có thể hiểu rằng, đắc (prāpti), một trong các hành không tương ưng tâm (citta-viprayukta-saṃskāra), chiếm giữ một vị trí khá quan trọng trong vấn đề nhận thức. Nó như hấp lực, hay như chất keo, nối liền hai khái niệm, hai ý tưởng, hay hai hình ảnh trong tâm lý nhận thức thành một ý niệm hay ấn tượng nhận thức. Thí dụ, trong thực tế mỗi con bò là một cá thể biệt lập, nhưng tất cả có chung một tính chất bò, gọi là bò tính hay ngưu tính (go-gotvā). Nếu không có khái niệm bò tính như một tồn tại biệt lập ngoài tất cả mọi cá thể bò, thì khi nhìn con vật này biết nó là bò nhưng nhìn vào con vật khác cũng sở hữu tất cả yếu tính đồng loại, người ta không thể nhận thức nó cũng là bò như mọi con bò khác. Thế nhưng, giữa tồn tại của một ý niệm phổ quát như bò tính, và tồn tại của nhiều cá thể bò trong thế giới hiện thực, cần phải có một yếu tố gắn liền hai thực thể tồn tại này lại, bấy giờ mới phát sinh nhận thức về một cái gì đó. Yếu tố này được gọi là đắc, prāpti, mà ngữ nguyên của nó là động từ pra-āp: prāpnoti: “nó đi đến, đạt đến”, như một người nam và một người nữ đến với nhau để thành một cặp phu-phụ. Đắc nếu được hiểu như vậy, thế thì theo quan điểm của Độc tử bộ, các tùy miên tồn tại như lực hấp dẫn gắn chặt thức với đối tượng của nó để phát sinh hiện tượng tâm lý tham hoặc sân, phiền não các thứ. Đại chúng bộ nói các tùy miên là hành không tương ưng, nhưng không có tài liệu nào của bộ phái này hiện còn để biết trong đó nói gì về các hành không tương ưng, nên khó xác định chúng như thế nào.
Kinh bộ nói các tùy miên chính là các chủng tử. Theo bộ này, chủng tử (bīja, hạt giống) là danh từ hình ảnh chỉ cho công năng (śakti), nguồn năng lượng tồn tại bên trong một sự vật, hoặc tâm hoặc vật; như công năng trong quả xoài mà khi gieo xuống đất thì các yếu tố vật chất tạo thành quả xoài như đất, nước, lửa, gió thảy đều tan rã, song công năng của giống xoài sẽ thu hút các yếu tố mới để hình thành mầm, rồi phát triển thành thân, cành, nhánh các thứ. Ở đây, tùy miên chính là phiền não trong trạng thái tiềm phục, gọi là nó ngủ. Vậy, không tồn tại tùy miên mà thể tính khác biệt với phiền não. Như hạt giống khi có điều kiện thì sinh trưởng thành quả; khi quả rụng, kết hợp với điều kiện khác nó lại phát sinh quả khác. Cũng vậy, tùy miên, khi có các duyên tác động thức để phát sinh nhận thức, nó hoạt động trong hình thái phiền não, khuấy động và làm nhiễm ô thức, và sau đó kinh nghiệm nhận thức bị nhiễm ô bởi phiền não này được tích lũy trong hình thái chủng tử và trở thành ký ức. Phiền não trong trạng thái hoạt động, phái Hữu bộ gọi là triền (paryavasathāna) vì nó quấn chặt thức vào đối tượng, khiến cho khó hoạt động một cách tự do.
Nói tóm lại, mặc dù có những giải thích khác nhau về thể tính của tùy miên, nhưng nói một cách tổng quát, thì tùy miên hay triền thảy đều là những trạng thái khác nhau của phiền não, ngủ hay thức.

2. Tính chất tùy miên
Tất cả phiền não đều có tính chất nhiễm ô, đây là ý nghĩa được thừa nhận phổ biến. Nhưng nhiễm ô không nhất thiết phải là bất thiện. Điều này còn tùy thuộc môi trường hoạt động và đối tượng kích khởi. Do đó, nói rằng phiền não hàm nghĩa “chiến đấu” (raṇa: tránh), vì nó gây tổn hại cho mình và cho người; mô tả này giới hạn hoạt động tâm lý trong phạm vi gọi là Dục giới. Như vậy, có loại tham có tính chất bất thiện vì nếu gặp điều kiện nó sẽ dẫn đến hành vi bất thiện như trộm cắp, hay vọng ngữ các thứ. Những loại nghiệp này chỉ có trong Dục giới, môi trường mà chúng ta có thể quan sát là thế giới động vật, và xã hội loài người. Nhưng tham trong Sắc và Vô sắc giới không dẫn đến các hành vi bất thiện như ở Dục giới do đó không có tính chất bất thiện. Không phải bất thiện, nhưng tham cố nhiên cũng không phải là thiện, vì vậy nó được xem là vô ký nhiễm ô. Các tùy miên khác được suy luận theo tiếp cận này. Đây là tiếp cận theo quan điểm của Hữu bộ.
Điển hình cụ thể, chúng ta quan sát hoạt động của tùy miên được gọi là hữu thân kiến (satkāya-dṛṣṭi). Tất cả mọi sinh vật đều có nhận thức một cách vô thức, nhận thức bản năng, về sự tồn tại của tự thân cần được duy trì và bảo vệ. Tồn tại như thế nào, đây là điểm thăm dò và tranh luận gay gắt trong tất cả mọi tôn giáo, triết học, và cho đến cả khoa học. Cho đến ngày nay, chưa một học thuyết nào xác định nó là cái gì, và ý thức nó là thế nào. Tuy vậy, quan sát mọi sinh vật tồn tại, từ hạ đẳng cho đến cao cấp, sự sống được điều hành bởi một nguyên lý nào đó, giả thiết như là tự ngã, và tự ngã ấy không tồn tại ngoài thân này, mặc dù có thể tin tưởng về sự tồn tại của một thứ linh hồn sau khi thân này tan rã. Nếu không có nhận thức một cách vô thức về tự thân như là tự ngã này thì trong dòng tiến hóa sinh vật đã không phát sinh những phản ứng thích ứng để tự tồn, theo bản năng sinh tồn mà nói Kinh Phật gọi là khát ái.
Phản ứng để tự tồn này phát sinh theo hai hướng chính: thuận, nghịch, với hai thứ phiền não căn bản: tham để nhận vào và sân để đẩy ra. Kinh Phật đều cho rằng khi mà chưa nhận thức được bản chất chân thực của tồn tại, thì dù phản ứng thuận hay nghịch thảy đều bị chi phối bởi nhận thức sai lầm là vô minh.
Cho nên, trong nhiều trường hợp hữu thân kiến là nguyên nhân tác động làm phát sinh tham hoặc sân dẫn đến những hành vi có thể thiện, có thể bất thiện. Nhưng tự bản chất, hữu thân kiến là vô ký, không có tính chất thiện hay bất thiện. Vô ký nhưng ô nhiễm vì xúc cảm về sự tồn tại của một tự ngã luôn luôn che khuất tầm nhìn không cho thấy rõ bản thể chân thật của tồn tại là gì.
Tham, từ Hán dịch này tương đương với nhiều từ Sanskrit, vì nó xuất hiện và hoạt động với nhiều hình thái khác nhau nên cần có những tên gọi khác nhau để phân biệt. Hán ngữ vì nghèo nàn về kho ngữ vựng của tâm lý học nên không đủ từ để mô tả. Tham tùy miên, nguyên Phạn của nó là rāga. Đây là danh từ phái sinh từ động từ rañj: rajati, “nó bị nhuộm màu (thường là đỏ)”, hay “nó bị kích thích.” Cho nên tham này thường được nói là tham nhiễm hay tham trước, tham đắm. Nó tham cái gì, nó bị nhuộm màu theo cái đó. Ý nghĩa này mô tả tác động của tham đối với hành vi hay nghiệp một cách rất tượng hình.
Về mặt thể tính luận mà nói, tham tùy miên là một thứ bản năng sinh tồn với định hướng rằng ta sẽ tồn tại như thế này hay như thế kia trong tương lai hay trong đời sau, ước nguyện rằng trong tương lai ta sẽ tốt đẹp với sắc như vậy, với thanh, hương, vị, xúc như vậy; bấy giờ nó được mệnh danh là dục tham (kāma-rāga).
Thế nhưng không phải tất cả tham tùy miên đều là bất thiện. Trong Dục giới, tham cơ bản là bất thiện vì nó là động cơ cho các hành vi bất thiện, mà đối tượng của nó là sắc, thanh, hương, vị và xúc; những thứ này thuộc ngoại giới cần được chiếm hữu. Hành vi chiếm hữu thường dẫn đến chiếm đoạt, gây tổn hại cho người khác. Ở đây nó được gọi là dục tham (kāmarāga).
Những tham nhiễm mà không hướng ra ngoại giới để chiếm hữu; nó nhiễm với chính sắc mà nó làm phát sinh trong thiền định, hoặc chỉ tham nhiễm với trạng thái thuần nội giới, tham này được gọi là hữu tham (bhava-rāga): tham nhiễm tồn tại. Dục tham cũng là một thứ tham nhiễm tồn tại, nhưng vì nó hướng ra ngoại giới để chiếm hữu, nên có tên gọi đặc biệt.
Trước Phật giáo, trong Veda chỉ ghi nhận có một khát vọng tồn tại, đó là sinh thiên (svarga), để ở đó có đời sống bất tử của chư thiên bản hữu. Trong thiên giới này, tồn tại của chư thiên cũng đại để như loài người: cũng thù hận, cũng phân chia phẩm vật do loài người dâng cúng để hưởng thụ. Nhưng cố nhiên là đời sống được nghĩ tưởng thoải mái hơn loài người. Đây là loại thiên đường được tin tưởng như nhau trong nhiều tôn giáo. Cho đến khi Phật giáo xuất hiện, một thế giới chư thiên khác được giới thiệu: thế giới trong đó chư thiên tồn tại với cảm thọ hỷ lạc của thiền định, vượt lên trên thế giới tồn tại với tán tâm mà cảm thọ lạc phải được kích thích từ ngoại giới.
Trong ba con đường nói đó, Thiên đạo và Phạm đạo được diễn hành bằng hữu tham. Thánh đạo phải được tiến hành bằng vô lậu.
Nói tóm lại, trong hai loại tham, dục tham (kāma-rāga) có tính chất bất thiện; hữu tham (bhava-rāga) có tính chất vô ký, và ô nhiễm.
Tùy miên đáng ghi nhận kế tiếp là sân (pratigha). Trong A-tì-đạt-ma, cả Nam và Bắc phương, sân duy nhất chỉ có tính bất thiện, có thể liệt vào loại xúc cảm tổn hại. Nhưng hầu hết xã hội và tôn giáo, sân có mặt tích cực được tán thưởng. Trong Phật giáo, mặc dù Kinh Phật không nơi nào tán thành hành động với sân, nhưng trong lịch sử “phẫn nộ” nhiều khi cũng được biện hộ là cần thiết. Trong cuộc đối thoại giữa Dalai Lama và các nhà khoa học tại Dharamsala, đề tài được thảo luận khá chi tiết. Paul Ekman hỏi Dalai Lama: “Trong các tác phẩm của Ngài, Ngài nói không phải tất cả sân (anger) đều gây hại. Sao Ngài không chỉ rõ sân nào gây hại, để chúng tôi không nghĩ tất cả đều là sân?” Dalai Lama trả lời: Có sự phân biệt. Trong tiếng Tây tạng có hai từ khong khro và shedang. Shedang thường dịch là thù hận (hatred) và khong khro dịch là sân (anger). Thật sự có những mẫu sân phát sinh từ tâm bi, trong khi sân là một trạng thái thô của tâm, nhưng tôi không tin nó là thù hận, hay shedang. Tâm bi là động lực, mặc dù nó tự bộc lộ như là sân.
Hai từ Tạng ngữ mà Dalai Lama nhắc đến, khong khro là dịch ngữ từ Sanskrit krodha, Hán dịch phổ thông là “phẫn” (hận, nộ); hoặc pratigha; Hán dịch là “sân” hay “nhuế”. Shedang hay zhe sdang, nguyên Sanskrit là dveṣa, Hán cũng dịch là “sân” hay “sân nhuế.”
Trong các từ Phạn nêu trên, krodha thuộc nhóm tâm sở gọi là cơ địa tiểu phiền não (parīttakleśa-bhūmika). Câu-xá định nghĩa: “Trừ sân với ác ý (vyāpāda) và bạo hành (vihiṃsā), tâm gây hại (āghāta) cho hữu tình và phi tình, gọi là phẫn (krodha).” Liệt trong các tùy miên, nó thuộc nhóm các triền (paryavasthāna), tức phiền não hoạt động trong trạng thái thức, nó quấn chặt tâm vào đối tượng khiến không được tự do.
Từ Phạn pratigha, sân, khong khro trong Tạng ngữ, do gốc động từ prati-han: pratihanti, “nó tấn công, phòng ngự, chống đối.” Với ngữ nguyên như vậy, sân hay pratigha, trước hết là phản ứng tự nhiên của cơ thể trước đối tượng được lượng định là đe dọa gây tổn hại. Nó có thể đối chiếu với xúc cảm giận (emotion of anger) mà trong tâm lý học tiến hóa luận được xem là phản ứng tự tồn thích ứng với quy luật đào thải tự nhiên (natural selection).
Nhà khoa học não Francisco Varela bình luận ý kiến của Dalai Lama: Cho nên sân mà chính đáng thì nó nhìn thực tại một cách chính xác. Thế nhưng, một câu hỏi được nêu lên: Có chăng sự kiện rằng một mẫu sân được phát bởi tâm bi mà lãnh hội thực tại một cách chính xác? Goleman tường thuật, với câu hỏi này, Dalai Lama nhìn lên trần nhà suy nghĩ: “Tôi không chắc chúng ta có thể nói được như vậy. Nhưng chắc chắn có điều được gọi “bi não” (afflictive compassion). Trong đây, từ Anh là afflictive, thường dùng để dịch từ kleśa, theo nghĩa có khả năng gây ưu phiền, khổ não. Hiểu theo nghĩa “phiền não”, có lẽ vì vậy câu trả lời này gây chấn động cả phòng họp, vì theo đạo lý truyền thống, bi tâm là một đức tính thiện. Goleman ngạc nhiên, hỏi lại: “Trong những trường hợp nào?” Dalai Lama đáp: “Tôi đã có gặp điều này trong Pramāṇavarttika (Lượng thích luận, của Dharmakīrti/Pháp Xứng), nhưng không thấy nêu thí dụ. Chỉ có thể nói rằng có một điều như vậy. Theo quy tắc, bi được xem là một đức tính thiện. Có thể do vì yêu thương mà nó bị lẫn lộn với nhiễm.”
Trong A-tì-đạt-ma, sân, dưới mọi hình thái, chỉ tồn tại và hoạt động trong Dục giới, môi trường tán tâm vì tính chất chiến đấu của nó. Sân không tồn tại trong môi trường tâm định, từ Sắc giới trở lên. Nói cách khác, tâm định thì không sân; tâm sân thì không định. Điều này có thể khẳng định, như mô tả bởi Darwin về các trường hợp sân giận (anger) và phẫn nộ (rage). Mặc dù cường độ sân nhẹ hơn phẫn nộ, và nhẹ nhất, thoáng qua, với đối tượng xúc phạm không đáng quan tâm; nhưng dù vậy, vẫn gây biến đổi nhỏ trong cơ thể: tim đập, mạch nhảy, biến sắc...
Ý kiến này phù hợp với A-tì-đạt-ma, theo đó, sân chỉ có thể phát sinh với cảm thọ khổ. Cảm thọ khổ được định nghĩa là trạng thái không điều hòa của thân, như Câu-xá định nghĩa: “Những gì trong các cảm thọ thuộc thân mà gây tổn hại, nó được gọi là khổ.” Như vậy, chí thiểu sân cũng gây tổn hại cho bản thân người sân, và bóp méo thực tại để cho nhận thức sai lầm, tất nhiên dẫn đến hậu quả không tốt đẹp trong chừng mực nào đó. Những gì biện minh cho khía cạnh tích cực của sân đều có tính cách khiên cưỡng.

3. Bộ loại tùy miên
Khổ do nhận thức thực tại sai lầm. Nhận thức sai lầm do bị chi phối bởi phiền não. Và cũng ngược lại, do nhận thức sai lầm mà phát sinh phiền não. Như người do bóng tối mập mờ, nhận thấy con rắn mà tưởng là xâu chuỗi vàng, và cũng do lòng tham chi phối mà nhầm lẫn; hậu quả là tai hại.
Các tùy miên căn bản chỉ có sáu, nhưng do quan hệ môi trường mà chúng tồn tại và hoạt động với các hình thái tiềm phục và hiện hành khác nhau. Trước hết là mê lầm về thực trạng khổ. Như một người đang bệnh mà không biết ta bệnh ở đâu, thậm chí không biết ta đang bệnh; thế thì nó cũng không biết nên hay không nên ăn uống thứ gì. Uống nhầm thuốc là điều tai hại. Nhưng nếu không biết thế nào là một cơ thể lành mạnh, thì cũng không có hướng điều trị hay không điều trị. Đây gọi là mê lầm khổ đế và diệt đế.
Thêm nữa, người biết ta đang bệnh, vậy cần phải tìm rõ nguyên nhân sinh bệnh. Nhưng có thể do nhầm lẫn bệnh chứng nên đoán định nguyên nhân sai lầm; như thương hàn mà tưởng là sốt rét thì hướng điều trị có thể dẫn đến hậu quả tai hại. Đây là ví dụ cho mê lầm tập đế và đạo đế.
Mê lầm bốn chân đế thảy đều làm phát sinh các phiền não. Nhưng tham trong mê khổ đế không có bản chất như tham trong mê tập đế, hay diệt, đạo đế. Căn cứ nguyên lý này, Hữu bộ phân loại các tùy miên thành bốn bộ. Mặt khác, tham trong môi trường tán tâm (không có định) và trong môi trường định tâm (có định) không giống nhau, phân thành bốn bộ trong ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Tổng hợp tất cả có 88 tùy miên.
Về mặt thể tính luận, tất cả các tùy miên này tồn tại trong tất cả mọi loài chúng sinh từ sinh vật hạ đẳng cho đến cao cấp suốt trong trường kỳ sinh tử, tùy theo môi trường tồn tại mà cái nào ngủ, cái nào thức, cho đến khi chân đế nào được nhận thức rõ bấy giờ tùy miên do mê lầm chân đế ấy bị diệt trừ. Thế nhưng, vì tính cách tương đối của khổ và lạc, chỉ có trong loài người mới có động cơ thích ứng để phản tỉnh thực tế tồn tại, và nơi đây cũng là môi trường thuận lợi để quán sát. Vì vậy các A-tì-đạt-ma đại phần y trên thế giới loài người mà luận về các tùy miên.
Trong thế giới loài người, xã hội là môi trường có tác động mạnh nhất trong sự phát sinh các phiền não. Mặc dù, theo bản năng tự tồn, mọi sinh vật đều hướng ra ngoại giới để thu nạp nguồn năng lượng cần thiết, thế giới tự nhiên cũng là đối tượng quyết định cho hướng hoạt động của các phiền não.
Tự bản năng, con người cũng như mọi sinh vật khác có một thân thể để có ý tưởng về một tự ngã; đó là hữu thân kiến (satkāyadṛṣṭi). Nhưng với con người, bản chất của thân thể này là gì, thì không có quan niệm chung trong các tôn giáo và nền văn minh khác nhau. Cũng do khác biệt quan niệm về tự thân này mà chi phối phán đoán về thực trạng khổ hay lạc, nguyên nhân khổ, con đường đối trị, và cõi an lạc vĩnh hằng là ở đâu. Hữu bộ gọi các tùy miên này là “kiến” (dṛṣṭi), thuộc phạm trù quan điểm, và phân tích thành năm yếu tố. Một người có thể từ tín ngưỡng này chuyển hướng sang tín ngưỡng khác, và cũng thay đổi luôn cả nhận thức về khổ, nguyên nhân khổ, con đường diệt khổ và cõi an lạc vĩnh hằng. Dù chuyển hướng, thay đổi tư duy hay tín ngưỡng theo hướng nào bất kể, nhưng nếu không nhận thức chính xác bản chất của tồn tại với những phán đoán nhân quả sai lầm, thì thế giới được tưởng là cõi an lạc vĩnh hằng cũng chỉ là giả tạm, như dưỡng đường cho người bệnh, quán trọ cho lữ khách mệt mỏi.
Tuy các phiền não là những yếu tố tâm lý, nhưng hoạt động của chúng tùy theo điều kiện chi phối bởi hai lực tác động: sinh lý và tâm lý. Trước đối tượng đe dọa, phản ứng tự tồn theo bản năng thì người hay vật đều như nhau, hoặc phòng ngự bằng các biện pháp tự vệ, hoặc tấn công để loại bỏ đối tượng đe dọa, chỉ có phần khác nhau về cách thái biểu hiện, vì cấu trúc cơ thể không giống nhau. Nhưng với loài người có thêm động cơ tâm lý đã định hình theo truyền thống và giáo dục như thế nào đó. Cũng bị xúc phạm hay đe dọa với đối tượng có thể tương tự, nhưng phản ứng của mỗi người sẽ khác nhau, nhanh hay chậm, bạo hành hay kềm chế, tùy theo mẫu mực truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội, hay tín ngưỡng tôn giáo mà người ấy được giáo dục, chịu ảnh hưởng.
Cơ thể vật lý của sinh vật được gọi là sắc dị thục. Sắc này gồm có hai phần. Một phần là sắc do di truyền của chủng loại; phần này cần thu nạp dưỡng chất ngoại giới để tồn tại và phát triển. Thuật ngữ A-tì-đạt-ma gọi nó là sắc sở trưởng dưỡng (aupacayika-rūpa). Phần khác chính là sắc dị thục sinh (vipākaja-rūpa), do di truyền chủng loại kết hợp với nghiệp tích lũy từ những hành vi trong các đời sống quá khứ. Vì nghiệp là hành vi thiện hay bất thiện được thúc đẩy bởi động cơ khát vọng sinh tồn, gọi là ái (tṛṣṇā), và tùy theo khát vọng tồn tại với điều kiện như thế nào đó mà ái này tẩm ướt và nhuộm màu nghiệp theo định hướng đó. Như người ta nhuộm đỏ hoa câu duyện để quả của nó có thịt màu đỏ. Cho nên, sắc dị thục đã bị nhuộm màu theo ái. Như tấm vải được nhuộm màu, không thể đổi khác. Vải nếu bị dính bẩn bởi bụi đường, chỉ cần nước đã có thể gột sạch. Nhưng nếu bị nhuộm màu, chỉ có thể gột bằng thuốc tẩy loại nào đó. Phiền não như bụi đường do ảnh hưởng môi trường có thể diệt trừ bằng sự chứng nghiệm chân đế; chúng được xếp vào loại gọi là kiến sở đoạn (darśana-praheya). “Kiến” nói đây chỉ cho sự chứng nghiệm Thánh đế. Phiền não hoạt động theo bản năng như màu nhuộm phải được loại bỏ bằng thuốc tẩy; chúng được xếp vào loại gọi là tu sở đoạn (bhāvana-praheya). Quá trình loại trừ này cũng có thể ví dụ như người cai nghiện. Ban đầu do nhận thức, thấy nó tai hại cho bản thân, hay cho cả gia đình, gia tộc, tùy theo trình độ nhận thức mà có thể dứt nghiện nhanh hay chậm. Tuy đã dứt hành vi tiếp cận vật gây nghiện, nhưng tập quán nghiện phải qua một thời gian mới dứt hẳn. Tập quán này chỉ có thể dứt hẳn phải do nghị lực. Tập quán này, trong Phật giáo được gọi là tập khí (vāsana), cần phải được trấn áp và diệt trừ bằng năng lực của định.
Do cơ cấu thân và tâm trong môi trường tồn tại có định (samāhita) và không có định (asamāhita) khác nhau, các phiền não thuộc loại tu sở đoạn được phân tích theo ba giới (dhātu), nhưng thảy đều bị loại trừ lần lượt bởi định do đó tập hợp thành một bộ. Tóm tắt mà nói, các tùy miên được phân thành năm bộ, trong đó bốn bộ là các phiền não thuộc kiến sở đoạn với tổng số 88, và một bộ là các phiền não thuộc tu sở đoạn với tổng số 10 yếu tố. Như vậy, theo phân loại của Hữu bộ, có tất cả 98 tùy miên phân thành năm bộ (pañcaprakāra) trong ba giới (tridhātu).

4. Phẩm loại tùy miên.
Tùy miên là trạng thái tiềm phục của phiền não. Nhưng khi nói là phiền não, thì từ này được dùng trong hai ngữ cảnh khác nhau. Trong các tâm sở, các phiền não được kể trong đại phiền não địa pháp, đại bất thiện địa pháp, tiểu phiền não địa pháp, chúng là những yếu tố tâm lý, là chức năng hoạt động của thức mang tính chất gây hại, điều khiển các hành vi bất thiện. Nhưng các phiền não được kể trong bộ loại tùy miên là những bản chất tâm lý, gây trạng thái ô nhiễm, và ràng buộc cho tâm.
Các tùy miên theo đặc tính gây ô nhiễm hay ràng buộc tâm và do đó ràng buộc hữu tình vào khổ sinh tử lưu chuyển; chúng được phân biệt theo các phẩm loại đặc biệt: hoặc kết (samyojana), phược (bandhana), hoặc triền (paryavasthāna), hoặc thủ (upādāna), hoặc cái (āvaraṇa) v.v...
a. Trong đó, thủ (upādāna) được kể trong 12 chi duyên khởi. Nó là yếu tố quan trọng khởi động nghiệp thiện và bất thiện dẫn đến cảm thọ dị thục lạc hay khổ trong các đời sau.
b. Kết (saṃyojana), gồm ba kết, năm kết, chín kết. Vì đặc tính của chúng là trói buộc chúng sinh vào trong lưu chuyển sinh tử, gánh chịu khổ quả, như cái ách hay sợi dây buộc vào cổ con bò khiến nó phải kéo cổ xe nặng nhọc. Trong đó, năm hạ phần kết là những sợi dây buộc chúng sinh vào Dục giới; năm thượng phần kết, trói buộc vào Sắc và Vô sắc giới.
c. Triền (paryavasthāna), vì chúng quấn chặt chúng sinh, khiến không thể tự do hành động để đạt đến an lạc cứu cánh.
d. Cái (āvaraṇa), hay chướng cái, chúng che mờ tâm trí chúng sinh do bởi tham luyến năm dục cảnh khiến cho tâm không định và do vậy dẫn đến nhận thức sai lầm; như người bị trùm kín thì không thể thấy rõ đường đi. Khi người đắc sơ thiền thì năm cái này bị loại trừ.
e. Bộc lưu (augha), chúng như dòng nước lũ cuốn trôi mọi thứ không gì có thể cản.
Nội dung của các phẩm loại được phân biệt này chính là tất cả 98 tùy miên trong năm bộ ba giới, nhưng tùy theo trường hợp mà một số có tác dụng dẫn đầu. Như trong thủ, dẫn đầu bởi 4 tùy miên: dục thủ, tùy miên dục tham trong cả năm bộ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã ngữ thủ là tên gọi khác của tùy miên hữu thân kiến; ba tùy miên này thuộc kiến sở đoạn, và cũng là biến hành tùy miên.
Các phẩm loại khác, như ba lậu (traya āsravā), ba phược (bandhanatrayam), bốn ách (catvāro yogāḥ), tùy theo thích ứng, có thể nhận thức theo cách tương tợ.

T.S.
huongtichbooks




Lượt xem: 1353 



XEM THÊM CÙNG THỂ LOẠI


- NGHIỆP LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA
- NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI (t.t)
- NGUYÊN LÝ DUYÊN KHỞI
- TỔNG LUẬN VỀ NGHIỆP
- TỰA TRUNG LUẬN
- LUÂN HỒI NGHIỆP BÁO
- NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT CỦA BỒ TÁT HÀNH
- TỔNG LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ
- DẪN VÀO DUY THỨC HỌC
- THẮNG MAN GIẢNG LUẬN
- DẪN VÀO TÂM KINH BÁT-NHÃ
- BA CỐT TỦY CỦA ĐẠO LỘ
- BỒ ĐỀ ĐẠO ĐĂNG LUẬN
- THỨ TỰ TU TẬP
- TÁM THI KỆ LUYỆN TÂM
- A-TỲ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ - II - Phân Biệt Thế gian. TỔNG THUYẾT VŨ TRỤ LUẬN
- BỒ ĐỀ ĐẠO THỨ ĐỆ NHIẾP TỤNG

TIN SÁCH

Ghi danh để nhận thông báo sách mới qua email.

Ghi danh nhận tin khi có sách mới

LIÊN LẠC

ĐỊA CHỈ

Thư quán Hương Tích
308/12 Nguyễn Thượng Hiền
Quận Phú Nhuận, TP HCM

Điện thoại: 08 3550 0339
Email: huongtichbooks@gmail.com

Kết nối